Khải Huyền Muộn – Chương 4

Đã rất nhiều lần Vũ muốn bỏ cái thói quen mỗi khi lơ mơ buồn ngủ là lại cho tay xuống phía dưới cạp quần. Vợ Vũ nói là trông rất xấu và cái chính, đừng để thằng Bảo bắt chước. Cái thói quen này có từ hồi Vũ mới lớn, nhất là khi những lúc lan man tự nghĩ, rồi đậm đặc ở thời kỳ cô đơn ký túc xá sinh viên. Mùa đông nước Nga nổi tiếng lạnh. Vũ co ro cho tay vào cạp quần nằm vơ vẩn nghĩ linh tinh. Con bé năm thứ hai người Tiệp hay ngồi cạnh Vũ trong thư viện ngực rất sồ sề. Khi nó cắm cúi tra từ điển, bầu vú nặng không áo lót đè bật tung cái khuy áo sơ mi cài lỏng, Vũ trông thấy rõ ràng từng đốm nhàn nhạt nâu của tàn nhang. Vũ lẩm nhẩm cố nhớ một vài cuộc tình nóng. Đến cái tuổi này càng muốn nhớ lại càng thấy khó. Muốn nhớ hay muốn quên đều là một khoái cảm khó chịu. Sáng nay nắng hanh và đến hai giờ rưỡi chiều Vũ sẽ chủ trì một cuộc họp không quan trọng lắm. Bụng Vũ đang óc ách cốc bia Đức uống cố, thêm miếng chân giò hầm nặng mỡ. Liên đoàn bóng đá đang bị báo chí dữ dội chửi vì đã thuê nhầm một gã huấn luyện viên trưởng bất tài. Trận thua mất mặt nhục nhã làm mọi người nhao nhao một tinh thần yêu nước. Trước đấy, những bài diễn văn đại ngôn mà chính Vũ cũng có đọc một hai bài, đã trót tâng bốc đội tuyển quốc gia thành lô gô của lòng ái quốc. Vũ bật khẩy cười chuyên nghiệp. Vũ có gặp gã này chừng vài ba lần. ấn tượng duy nhất là gã rất thích mút kẹo bông. Gã để ria rậm và cái kẹo thì vừa dài vừa tròn, trông ngộ nghĩnh xếch xi. Sớm nay ngai ngái thu, Vũ vẫn chạy được một vòng hồ. Có một cô bé chạy ngược chiều đã quen mặt, hay liếc trộm Vũ. Bộ đồ thể thao Adidat lộ khoảng bụng mượt và trắng. Nắng hanh là cái nắng chỉ riêng có ở mùa Đông phía Bắc. Nó sanh sánh làm người ta nao nao tản mát nghĩ. Nắng vng ươn ao. Đấy là một câu sai ngữ pháp rất khó chịu ở trong một cuốn tiểu thuyết mà Cẩm My cứ bắt Vũ phải đọc. Đã có một lần mùa đông Hà nội tiễn Vũ bằng một trưa nắng hanh nóng hầm hập ngột ngạt cho suốt cả một nghìn bẩy trăm ba mươi cây số. Vũ không thể nhớ đấy là mùa đông của năm tám mươi hay là mùa đông của năm tám mốt.

Cho đến giờ, Vũ vào Sài gòn vô số lần và có phải ngay từ lần đầu tiên ấy Vũ đã âm thầm đi tìm ông chú ruột, cụ linh mục Đức. Vũ vĩnh viễn không nói điều này với bất cứ ai, kể cả những lúc buồn chán nhất chỉ có riêng Cẩm My. Bắt đầu của đêm, tầu chạy nhanh hơn, Vũ vươn hết nửa mình qua cửa sổ toa tầu mà hứng gió. Xa xa tít, ánh lửa than của đầu máy hơi nước hắt bùng lên những nháng sáng giận dữ đến ma quái vào mênh mông đen. Những mùa đông của những năm ấy, Vũ thỉnh thoảng buồn thỉnh thoảng cáu, nhưng Vũ còn rất trong trắng. Cẩm My tin chắc là như thế và Vũ cũng lưỡng lự tin là như thế. Vũ vừa tốt nghiệp bằng đỏ từ Nga về. Vũ đã nghe theo lời khuyên và sự sắp xếp của cụ Đỗ. Có những kiểu lời khuyên không thể không nghe theo. Bước vào thập kỷ tám mươi, những người lãnh đạo đất nước đã bớt ngây ngất trước một chiến thắng vĩ đại, họ đã bắt đầu phải đối mặt với những khác lạ phức tạp của nhiều sự vụ thời hậu chiến. Muốn tạo dựng một lễ nghi điển chế cho thời bình, hình như phải có chữ. Một vài người đã nhơ nhớ ra vai trò của bọn trí thức. Nói theo kiểu gã mưu sĩ Tầu thâm nho Lục Giả góp ý cho ông vua ít học Hán Cao Tổ, Bệ hạ có thể ngồi trên lưng ngựa để bình thiên hạ nhưng không thể vẫn ngồi trên đó mà trị thiên hạ. Vũ nghĩ là nhiều người lãnh đạo hao hao giống cụ Đỗ đã thích và ang áng hiểu câu đấy. Tất nhiên, hiểu một cách sâu sắc theo kiểu của các cụ. Không phải ngẫu nhiên Vũ có được bằng đỏ. Chỗ của Vũ đang làm càng không phải chỗ bình thường, ngoài chuyện đương nhiên là con ông cháu cha thì bắt buộc phải có thực học. Một nơi được xác định như là đào tạo đội ngũ kế cận, nôm na là một thứ trung tâm nuôi dưỡng cán bộ nguồn. Gió uể oải vì tầu chạy chậm. Có một con bé tuổi khoảng mười bốn mười lăm tóc cháy khét đỏ ngơ ngác đứng chăn bò. Ngực nó nhu nhú quả cau khi vươn tay vẫy về phía đoàn tầu. Nông thôn Việt Nam muôn đời vẫn vậy. Đây là lần đầu tiên Vũ vào Sài gòn để đi công tác. Hà nội lừ đừ bị đánh rớt lại, cái cảm giác thương buốt quen thuộc khi phải dời xa. Một chốc lát đã qua Thường Tín, nắng hanh đốt úa dọc cây hai bên đường quốc lộ. Miền Bắc xã hội chủ nghĩa năm nay bị đánh cắp mất mùa đông. Vào thời điểm đấy đã bắt đầu có nhiều những vụ mất cắp. Tất nhiên là còn ít nếu so với bây giờ. Bây giờ thì có ngày hôm nay và ngày hôm nay thì có giông. Trời có vẻ trở gió, Vũ ngồi trong phòng máy lạnh mà vẫn thấy nhưng nhức nắng hanh. Vũ rất ghét họp hành vào cái lúc thời tiết kiểu như thế này. Vũ lao đao mệt vì bữa trưa phải miễn cưỡng ngồi uống bia dài với ông thầy cũ. Cách đây hai tháng, Vũ tự đèo xe máy chở giáo sư Kiêm, ông thầy cũ kỹ không vô tình lắm quý Vũ từ hồi Vũ làm thêm thạc sĩ. Đường Chùa Bộc vào lúc tan tầm đông nườm nượp các loại xe. Một phố mới ngạo nghễ trọc phú nửa quê nửa tỉnh đầy tự tin nham nhở mọc lên. Vũ cho ô tô đến đón nhưng giáo sư Kiêm nhất định không chịu. Thầy của Vũ bảo, đến chỗ ấy đi theo kiểu ấy, ông không thích. Ba mươi năm trước, khoảng năm thứ nhất đang học ngoại ngữ ở Thanh Xuân để chờ đi Liên Xô, Vũ đã mang máng biết tính thầy. Vũ định đùa thầy mình bằng chuyện Nhan Súc. Tề tuyên Vương gọi kẻ sĩ “Súc, lại đây”. Kẻ sĩ ứng tiếng đáp “Vua, lại đây”. Nếu cứ căng thẳng như thế thì còn ai đến được với ai. Hết đường Chùa Bộc xe cộ thưa thoáng hơn. Lâu lắm rồi Vũ mới lại đi xe máy. Đi trước Vũ là một cặp mông tròn của một thiếu nữ bịt kín mặt tránh bụi. Cạp quần của con bé trễ một khoảng nhễ nhại trắng, cố tình để lòi ra một cái mác đen sẫm của quần xịp. Vũ rẽ trái. Một đoạn phố ngắn chưa kịp đặt tên có lòng đường rộng trải nhựa thật phẳng dẫn vào khu biệt thự của các cán bộ cao cấp. Người ở khu này là Tổng giám đốc của các Tổng công ty lớn, là Trung ương uỷ viên mới được bổ nhiệm, là những thương gia cố tình ẩn danh tiền đè chết người. Vũ đỗ xe trước ngôi biệt thự có nhiều hoa giấy leo kín cửa sắt sơn xanh. Viên cảnh vệ quen mặt mặc thường phục gật đầu chào Vũ. Giáo sư Kiêm chỉnh lại quần áo, giáo sư trông ngồ ngộ trong bộ vét tông sáng nhờ nhờ, cố là nhưng vẫn nhầu. Hai thầy trò đi trên một con đường nhỏ rải sỏi sạch sẽ xuyên qua một hoa viên có trồng nhiều cây cảnh lạ. Chủ nhân đứng sẵn ở bậc tam cấp tiền sảnh biệt thự, tươi cười chờ.
“ Xin chào thầy, tôi đã được nghe Vũ nói rất nhiều về thầy”
Giáo sư Kiêm thẳng người bắt tay chủ nhân. Vũ liếc thật nhanh thầy mình, giáo sư không cười nhưng khẽ lấy tay trái nhay nhay mũi, dấu hiệu mỗi khi giáo sư hài lòng. Cả ba người vào phòng khách. Biệt thự này mới xây được chừng ba năm, đích thân chủ nhân duyệt chi tiết từng bản thiết kế. Đến bản vẽ thiết kế thứ bẩy thì tạm hài lòng. Toàn bộ phía ngoài biệt thự trông bình thường, nhưng sau dẫy tường bao là những cầu kỳ kinh người. Chủ nhân đã đi không dưới một trăm nước và ông chọn không gian kiến trúc của người Pháp. Phòng khách rộng vừa phải kê duy nhất một bộ sa lông xám nhạt mà Vũ biết là vô giá vì đây là bộ duy nhất hiện nay có mặt ở Việt Nam. Nó là quà tặng có chữ ký của khoảng chục viên trưởng đại diện thương vụ Việt đang công tác dài hạn ở châu Âu. Vũ mang máng biết về một hệ thống buôn bán khổng lồ ở ngoài nước được đan kết bởi một số quan chức, quy mô và sự xa xỉ của nó ngoài sức tưởng tượng. Chủ nhân mời thuốc, giáo sư Kiêm rụt dè nhón điếu xì gà loại nhỏ, có lẽ chỉ vài lần trong đời ông mới được nhìn thấy. Vũ biết, giáo sư vẫn khát khao nhớ về những vài lần ấy. Vũ đánh diêm châm cho thầy mình, ông giáo sư già lập bập hút thuốc mắt vẫn không rời bức sơn dầu vẽ cảnh ngoại ô Paris. Gã cựu sinh viên trường Xoóc bon mê hội hoạ thoáng run rẩy, nếu đấy là Rơ Noa thật. Người Việt đã đủ giầu đến mức đó ư, không thể. Nhưng đừng khẳng định gì ở cái thời buổi này. Chủ nhân cũng tự châm một điếu thuốc thong thả trình bầy.
“ Tình hình là thế này. Trung tuần tháng tới tôi sẽ phải chủ trì một cuộc họp của các bộ trưởng trong khối Frăng cô phôn tổ chức tại Hà nội. Thú thật tôi chỉ biết tiếng Nga chứ hầu như không biết tiếng Pháp. Tôi phải đọc hai bài đít cua cho buổi khai mạc và bế mạc dài chừng hai trang rưỡi A bốn. Không dùng phiên dịch vì mình là nước chủ nhà của những người nói tiếng Pháp, khổ thế đấy.”
Chủ nhân và Vũ cùng cười, giáo sư Kiêm định cười nhưng nghĩ thế nào lại nghiêm nét mặt. Giáo sư cũng biết cái ông đáng nhẽ sẽ là chủ trì cuộc họp lần này, ông ta rất giỏi tiếng Pháp nhưng không hiểu sao ông ta đột nhiên thất sủng. Vũ cười trả lời khi thầy mình tò mò hỏi, em cũng không biết nhưng không phải là sang trọng đa nguyên đa nghiếc gì đâu, lý do cũng dung tục thôi mà. Chủ nhân dụi điếu xì gà còn non nửa vứt vào gạt tàn.
“ Tôi không cần hiểu mình đọc gì nhưng tôi cần cái prononciation, làm sao cho cái giọng đỡ bồi. Tôi rất cần sự giúp đỡ của thầy”.
Giáo sư Kiêm đã có vẻ đỡ căng thẳng. Vũ cũng đã nói những thông tin tương tự cho giáo sư, tất nhiên chẳng bao giờ Vũ nói hết. Chưa bao giờ, chưa ở đâu Vũ được nói hết, đấy có thể là điều có lợi nhưng có lẽ cũng là bi kịch. Vũ và chủ nhân hoàn toàn biết nhau qua công việc, để đạt tới mức tình cảm thân thiết như thế này thì không phải đơn giản chỉ có chuyện Vũ là con nuôi cụ Đỗ. Chủ nhân sắc sảo bài ngửa, sống rất có tín nghĩa, hơn Vũ chừng mười lăm tuổi và thâm niên làm quan lớn cũng khoảng chừng ấy. Thật ra, ở cương vị của chủ nhân thiếu gì những tay sành sỏi tiếng Pháp cung phụng, nhưng ông không thích. Gia sư cho cỡ ông, không những là người thật giỏi, đã đạo cao đức trọng mà còn phải được tiếng là khiêm danh ẩn sĩ. Chủ nhân đã tin Vũ. Trong đông đảo các đại thần nhất nhị phẩm, chủ nhân nổi tiếng và giữ được tiếng là người có học. Hầu hết các quan chức lứa trưởng thành đi qua chiến tranh đều không biết ngoại ngữ. Trong lý lịch trích ngang của chủ nhân hồi còn đang chập chững non nớt trên đường hoạn lộ, chủ nhân đã khai đọc thông viết thạo bốn thứ tiếng Nga Anh Pháp và tiếng La tinh cổ, riêng tiếng này đã bị thất truyền.
“Nhưng tôi chưa biết rõ là sẽ phải làm cái gì”
Chủ nhân thong thả đưa hộp xì gà mời giáo sư hút điếu thuốc nữa. Giáo sư Kiêm suýt nhón dư một điếu cho vào túi áo nhưng ông vô thức giật mình nhìn quanh phòng khách. Hai cuộc kháng chiến trường kỳ khó khăn vất vả đã xoá nhưng vẫn không hết được ở vị giáo sư gốc Hà nội nỗi cồn cào thèm rượu ngon thuốc ngon. Hình như hơn hai chục năm nay, giáo sư đôi lần mới được dự giao tiếp của giới thượng lưu. Chủ nhân tế nhị nhìn qua mặt bàn vươn tay với ấm trà. Rồi chủ nhân sẽ nói. Trong sâu xa Vũ khâm phục tất cả các kiểu nói của chủ nhân, vừa trắng trợn đủ rõ để minh bạch vừa lừa mị dịu dàng quyến rũ. Vũ có một điểm yếu là ăn nói kém, nhất là khi bị hỏi đột ngột chưa được chuẩn bị kỹ. Quan chức là phải biết ăn và biết nói. Giáo sư Kiêm đã nghe xong, ông lập cập nói những yêu cầu của riêng mình. Ông sẽ không đi đến đây bằng ô tô đón. Ông sẽ chỉ kèm chủ nhân vào buổi sáng của những ngày lẻ, thứ ba thứ năm thứ bẩy. Ông sẽ… Chủ nhân cười, theo thói quen cao ngạo gật đầu. Giáo sư Kiêm cũng là người không biết nói và thật ra trí thức chẳng cần phải mở miệng nói nhiều. Người ta cần trí thức ở điểm gì. Nhân cách hay tài năng, cụ thể là những ứng dụng của học vấn. Cái nhìn thực dụng đôi lúc làm đám trí thức nhậy cảm nghẹn ngào tự tủi. Vũ thở dài, đâu có phải ngẫu nhiên mà khi chủ nhân nhờ, Vũ lại chọn giáo sư Kiêm. Giáo sư Kiêm ở trường đại học bị thất thế chưa hẳn là không biết xu thời, lỗi chính của thầy Vũ là tự tin quá. Thầy của Vũ cay cú nhiều lần công khai phát biểu, hiệu trưởng hiệu phó, nói chung cả ban giám hiệu trường đều nhan nhản là những thằng vớ vẩn. Giáo sư về ẩn ở lều gianh âm thầm biết cách tỉ mỉ để râu theo kiểu Ngoạ Long tiên sinh. Đã mang tiếng rồng thì nằm ngửa hay nằm sấp đều phảng phất dáng rồng. Rất nhiều trí thức có chữ nhầm tưởng mình là kẻ sĩ. Đấy là Vũ nghĩ thế và viên trợ lý của Vũ chắc chắn khẳng định là như thế. Vũ day dứt tiếc mình đã không được gặp cụ linh mục Đức. Cái tập bản thảo lộn xộn chi chít chữ mà Vũ đã đọc đi đọc lại nhiều lần chỉ làm Vũ thêm bâng quơ mênh mông một khoảng trống. Vào một đoạn thời gian không thể nhớ nổi, nhưng có lẽ là buổi sáng, cha bề trên của tu viện một dòng khổ tu đã đưa lại cho Vũ tập bản thảo của cha Phan xi cô Xa vi ê Đức.
“ Nói cho anh dễ hiểu thì tôi là học trò của cụ”
Cha đan viện trưởng chưa đến năm mươi nhưng tóc đã bạc trắng xoá, thong thả mời
Vũ dùng trà. Ngoài kia, phía núi mù sương cuối chân dốc Bảo Lộc lối độc đạo đi
Đà lạt cuồn cuộn mây mầu đục.
“Lạy cha, cho con xin được gặp người”
Không hiểu sao khi nghẹn ngào nói không hết câu thì Vũ khóc nức lên. Nước mắt nhoè và ẩm làm Vũ lẫn lộn. Vũ mông lung vẫn không thật biết là mình đã tìm được cụ linh mục của mình chưa. Còn mùa đông năm ấy vào Sài gòn Vũ ngồi trong toa tầu nồng nặc mùi mồ hôi cố hình dung về ông chú ruột. Vũ đã vài lần vào nhà thờ Chính Thống giáo khi ở Ki ép. Một nhà thờ có nhiều tranh kính rất đẹp hầu như để hoang không khí lành lạnh không có người đi lễ hao hao giống nhà thờ Cửa Bắc ở Hà Nội. Vũ ngẫu nhiên gặp một ông cha râu dài mặc áo súp li, một kiểu áo mầu trắng được gấp nhiều nếp theo chiều dọc, dài không quá đầu gối mà ở Việt nam giáo dân quen gọi là áo các phép. Ông ta để râu dài, hình dáng phảng phất giống nhân vật giáo sĩ Alexander de Rhodes mà rồi Vũ sẽ được đọc từ bản thảo để lại của cụ linh mục Đức. Ông ta đưa cặp mắt xanh lét rất nhanh nhìn Vũ. Từ đã lâu lắm, Vũ thường hay có cảm tình với những người tu hành có cái nhìn chầm chậm. Xâm xẩm chiều thì tầu đến Thanh hoá. Trong chuyến công tác này Vũ là người trẻ nhất. Tổ công tác gọn nhẹ chỉ có ba người. Tổ trưởng tổ phó đều bốn mươi nhăm tuổi được tiêu chuẩn đi máy bay. Vũ đi tầu nằm, thế cũng là một tiêu chuẩn ưu ái cực kỳ đặc biệt. Vũ là cán bộ điều hành trong một chương trình khảo sát xây dựng và phát triển kinh tài cho hạ tầng cơ sở của Trung ương Đoàn. Hồi ấy người ta chưa dùng thuật ngữ dự án, cái thuật ngữ mà hiện giờ đang làm tha hoá rất nhiều cán bộ vừa và nhỏ.
“ Thế có cán bộ lớn không”.
Cẩm My đang linh tinh nghịch mấy viên đá vụn sắp tan trong cốc nước cam, buột nhiên hỏi. Vũ ầm ừ. Cho đến lúc nào thì Vũ chính thức nghĩ mình sẽ trở thành một quan chức lớn. Không phải là cái đoạn Vũ được đi học ở trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc. Sớm hơn một ít. Có lẽ là trước ngày cưới chừng hơn một năm, cái ngày đầu tiên Vũ gặp cô gái sẽ là vợ Vũ. Lần ấy Vũ đi từ Sài gòn ra bằng máy bay. Vũ đeo kính dâm nên mạnh dạn nhìn vào cổ áo để trễ của cô gái đứng cạnh khi cô ta hớ hênh cố kéo va li ra khỏi băng chuyền hành lý. Một cái nhìn sét đánh. Và cho đến tận bây giờ vẫn chưa biết sét đã đánh vào đầu ai. Có phải cái ám ảnh băng chuyền hành lý làm cho Vũ được gặp Cẩm My ở Bắc Kinh. Qua cửa sổ máy bay hìn những tia chớp xanh loằng ngoằng phóng ra từ sét Vũ luôn cảm thấy nao nao hoang mang. Thực ra, Vũ vào Sài Gòn duy nhất có một lần là bằng tầu hoả. Vũ xuống ga Đồng Hới tìm mua chai rượu. Đi xa kiểu này, may mắn nhất là kiếm được chai Lúa mới. Lộn xộn chật người kinh khủng. Loanh quanh một hồi, uống thử một chén, nồng gắt, Vũ đành lấy tạm nửa lít của một quán hiếm hoi lợp gianh. Sân ga loạng quạng chiều miền Trung ồn ào đúng như cái chợ. Người ta chuyển lên chuyển xuống tầu huỳnh huỵch những bao tải ni lông thô mà Vũ chẳng hiểu trong đấy nó chứa cái gì. Đi theo tầu xuyên Việt chỉ cần khéo buôn dọc các ga là đã có nhiều lãi. Cứ vài ba ga xép là lại có một tổ kiểm tra liên ngành. Nhà nước ngây ngô tự nghĩ là mình đang quản lý được mọi ngóc ngách của thị trường. Các cô gái áo bà ba ngực tròn căng la hét điên dại dập dềnh theo những chuyến hàng. Nhân viên trên tầu, từ sang trọng trưởng tầu đến tầm thường trực buồng mặt ai nấy đều quan cách gay gắt đỏ nồng nàn mùi rượu. Ban đêm, tầu lắc lư, những gã đó sẽ ngủ với vài cô bé buôn chuyến, một thứ thuế nhất định phải có trong một nền thương mại mông muội man rợ. Vũ mua thêm hai cánh gà to hơi có mùi giá rất rẻ, kèm nhiều hành trần. Tầu tiếp tục chạy, Vũ trải báo mời những người cùng buồng nhâm nhi vặt. Cái toa nằm đặc biệt này mỗi buồng chỉ có bốn giường, giá đắt gấp rưỡi toa nằm khác. Mua được vé của nó là một trường đoạn hành chính dài dằng dặc. Chừng ba cái thư viết tay, chừng bốn cái giấy chứng nhận xác nhận người được mua đang ở tiêu chuẩn nào. Giường bên trái phía trên có một cụ bà có một ông con là thứ trưởng nhà ở Hà Nội, đâu đó mạn phố Hàng Than. Tầu chạy suốt sáu bẩy ngày, cụ luôn lầm rầm kinh Phật chỉ rời khỏi giường khi bắt buộc phải làm những việc vệ sinh. Một thằng cháu trai to khoẻ có vé toa ngồi vào những giờ nhất định vất vả chạy xuống giúp. Vũ trầm ngâm chợt nhớ, cho đến khi mẹ mất Vũ vẫn chưa mời cụ đi chơi xa được một lần nào. Tại hồi ấy quá vất vả hay tại mẹ Vũ thương Vũ. Vũ mời rượu hai ông khách đồng hành. Rất vui lòng, đêm trường lan man xa nhà tiếng bánh tầu rầm rập nghiến ray khiến ai nấy đều khó ngủ. Chai rượu lặng lẽ vợi nhanh. Vũ gợi chuyện. Một già một trẻ. Người trẻ công tác bên cục An ninh nghỉ phép về thăm quê, một vùng đất lúa khét tiếng về nấu rượu lậu, bây giờ quay lại đơn vị. Người trung niên nói rất nhiều, không rõ ông ta làm gì hoặc đi đâu, chỉ biết trên giá hành lý cạnh giường ông ta xếp đầy những bịch tròn tròn, chắc là thuốc lá sợi. Ông ta góp vào mâm chừng nửa cân giò bò, của nhà trồng được. Hết chai, chưa đến tám giờ tối, đồ mồi còn nhiều và chuyện gẫu đang vào độ ngọt. Anh công an mở cái va ly vải bạt loè loẹt kẻ ca rô đã xộc xệch sờn lấy ra một chai sáu nhăm nút lá chuối. Hình như là mẹ anh ta tự nấu. Xin Đức Chúa nhân từ cho cụ được sống thật lâu, chai rượu trong văn vắt ngon kinh khủng. Khoảng mươi năm lại đây Vũ thỉnh thoảng cũng có uống rượu ta, nhưng không thấy thích. Cũng có thể Vũ bị quen mùi Johnny Blue hoặc Cognac X.O. Đã nhiều lúc triền miên giữa những bữa rượu hàng triệu, Vũ đột ngột nôn nao nhớ về chai sáu nhăm có nút lá chuối của anh sĩ quan trẻ.
“ Chắc lúc ấy là anh mới về nước”. Cẩm My bâng quơ nghe rồi bảo vậy.
Vũ buông xuôi ừ. Nghĩ cho cùng, Cẩm My là một đứa trẻ con, thậm chí rất trẻ con. Vũ hình như yêu cô bởi những cái trẻ con ấy. Nhưng những ngây thơ hoặc trong trắng không thể là điểm tựa, nó đơn giản chỉ là một sự níu vớt. Có những cái nhớ hoặc thoắt xa hoặc thoắt gần phức tạp khó lý giải. Nếu mọi chuyện là đơn giản thì tại sao cho đến tận hôm nay Vũ cứ phải loay hoay đi tìm cụ linh mục Đức. Hôm Vũ nhờ Quân, viên trợ lý bốn mươi bẩy tuổi đã tám năm đi theo Vũ qua ba cơ quan phóng to cái ảnh có ông nội Vũ chụp chung cùng hai con giai, Vũ có hỏi.
“ Ông đã bao giờ bị ám ảnh về một điều gì chưa”
“ Thỉnh thoảng có, nhưng lâu rồi, hồi tôi còn thật trẻ”
“ Tôi muốn nói là cho đến tận bây giờ, thậm chí là hơn cả bây giờ, nghĩa là mãi mãi tới về sau”.
“Thế thì chưa”
“ Tại sao”
“ Có lẽ vì tôi không có đức tin”.
Quân gốc Hà Nội có hai bằng tiến sĩ, một thật một dởm. Ngày xưa học hoá dầu ở Ba ku, bạn cũ cùng lớp thành đạt gần như bị bắt hết trong vụ tham nhũng kinh hoàng ở Tổng cục dầu khí. Tay phó bí thư chi đoàn lớp, khi bị bắt hình như là Tổng cục phó, thú nhận đã ăn bớt chừng khoảng hơn triệu đô. Báo chí đồng thanh vẫn cho là nói điêu. Tay đó, thấp thoáng Vũ cũng biết, hồi khánh thành một sân gôn mạn phía Vũng Tầu, Quân có rủ anh ta đến nhậu. Uống hết hai chai Chivas bình sứ, anh ta bị nôn làm mọi người phát hoảng. Vũng nôn lờ nhờ một mầu sanh sánh vàng giống hệt mầu váng dầu. Cái lần bảo vệ tiến sĩ thật, Quân thức đêm học lao lực đái ra máu. Quân thề, nếu có lần bảo vệ sau thì chỉ đái ra bia. Lời thề của gã sinh viên có bốn năm liền là thủ khoa linh nghiệm thật. Lần bảo vệ tiến sĩ thêm ở trong nước, mùi nước đái của Quân và của hội đồng Giáo sư chấm luận án đều sực nức thơm mùi Giôn đen. Vũ rất muốn hỏi cụ linh mục Đức rằng, đối với một trí thức thì như thế là một sự tha hoá hay là một sự thoả hiệp hay đó là cái gì. Trời tối hẳn, đèn trong toa nhờ nhờ đùng đục, vẫn cái kiểu oi gió miền Trung. Bà cụ lục đục ngồi dậy chắc ngột ngạt vì rượu hoặc vì khói thuốc. Mọi người biết ý, anh công an dúi điếu thuốc lá dở xuống chân bàn, lơ mơ uống chay cốc rượu vã. Ông trung niên tót ra đầu toa dấm dúi cấu chí với một thiếu phụ có cặp mông lẳng lơ điêu toa buôn cau. Thiếu phụ nghiêm mặt liếc quanh, bàn tay ông trung niên đã lan man dũng cảm lần sâu vào phía dưới cạp quần. Vũ đến bên cửa sổ hành lang tầu lổn nhổn nhiều người đứng hóng gió. Và Vũ đã thấy cặp mắt ấy. Nó sẫm buồn đến kỳ lạ trên khuôn mặt mong manh rất trẻ con. Nó chăm chăm nhìn Vũ châm điếu thuốc. Vũ phồng má doạ, con bé cười rồi nghĩ thế nào chầm chậm quay đi. Bờ vai mỏng, mái tóc xoà khẽ rối quanh cái cổ gầy gò áng khoảng mười hai mười ba gì đó. Nó thầm thì với hai đứa đứng cạnh, chắc mấy chị em. Quần áo kích cỡ khác nhau nhưng cùng một kiểu. Vũ với tay lấy cốc rượu nhấp một ngụm dài. Cả ba đứa đều quay lại nhìn. Trông chúng không giống nhau lắm. Cô chị tươi và xinh nhất chừng đang học lớp phổ thông cuối cấp. Con bé út tròn xoe má bầu nói luôn miệng. Anh công an thấy ngồ ngộ, uống nốt ngụm rượu, đứng lên đi ra ngoài hành lang đùa với bọn trẻ. Mắt anh chàng lóng lánh nhìn cô chị rồi kể một chuyện vui. Bọn trẻ cười khanh khách. Nghe trẻ con cười thích thật, vợi cả lòng. Thằng Bảo nhà Vũ hồi bắt đầu biết ăn bột cũng là đứa rất tươi. Có người nô là nó cười thành tiếng. Vũ hồi đó đang gặp vài ba chuyện đáng kể là khó chịu. Cả tuần, dáu bẩy lần đấu đá liên miên họp. Vũ chán, đến cơ quan muộn rồi về sớm, ngồi ở đầu cũi ngắm thằng Bảo. Nó nheo nheo mắt, nhấp nháy cái lưỡi hồng liếm quanh đôi môi bụ. Ông bà ngoại nó hãnh diện vì nó là đứa xinh nhất đêm đẻ có nhiều mưa ở bệnh viện C của mùa hè năm ấy. Hồi thằng Bảo tròn mười tuổi, ông Ngoại tái trúng ban chấp hành, nhiều người biết đến mừng quà, chất sừng sững cao như hòn núi nhỏ. Gần ba chục cồng kềnh các loại xe đẩy, hơn một trăm các loại thú nhồi bông, còn quần còn áo dở nam dở nữ nửa đông nửa hè kể không thể xiết. Tất cả đồ mừng đều học theo kiểu văn của Hemingway, lối viết tảng băng chìm. Phần của tảng băng là đông đặc những phong bì. Cái phong bì có nắn nót đề chữ “Thân yêu tặng cháu Quý Bảo của chú” phía dưới ghi rõ họ tên số điện thoại là cái ấn tượng nhất. Một nghìn đô Mỹ. Cái phong bì có dòng chữ viết
vội “ Thân mến tặng cháu Quý Bảo của cô ” là lố bịch nhất. Một cái hoá đơn mua tủ lạnh Toshiba đã có dấu thanh toán kèm dòng chú, ngày mai cửa hàng sẽ chuyển đến. Không rõ tên người tặng. Vợ Vũ nhăn nhó nhìn Vũ đang bần thần mặt nghệt “ Riêng cái này phải để hỏi ông bà ngoại”. Lúc ấy Vũ đang là phó bí thư trực về công tác Đoàn, thỉnh thoảng cũng có được biếu xén. Và quà to nhất Vũ được biếu vào một dịp Tết là hai cân giò lụa, một chai Hennessy còn nguyên tem thuế, dưới đáy hộp lót phong bì có năm trăm ngàn đồng. Vũ phải sâu sắc tự biết cân bằng mọi chuyện. Đương nhiên thôi, đã tới một tầm chênh vênh nhất định thì không thể nông nổi hoặc hồn nhiên được. Tài thiểu nhi vị tôn, Đức bạc nhi nhiệm trọng, tiển bất cập hĩ. Tài nhỏ mà ở ngôi cao, Đức mỏng mà trách nhiệm lớn không những nguy cho mình mà còn cho cả gia đình mình. Kinh Dịch hay Luận Ngữ hình như nói vậy. Thực ra, cả hai quyển sách này đều dành riêng cho những người làm quan. Một thứ sách chuyên dùng cho các Đại phu nhà có ba cỗ xe. Nhiều trí thức bình dân tốt tính lẫn lộn tưởng nó là sách dạy về đạo lý, sốt ruột đem phổ cập lung tung hy vọng hão huyền đem rèn nếp cho đám quần chúng. Văn hoá, nói cho cùng, chỉ là sở hữu của một nhóm nhỏ. Dân chủ hoá văn hoá chỉ là một khái niệm hão huyền. Người là chủ bắt buộc phải có quyền, một thứ đám đông nhân và dân vĩnh viễn không bao giờ được có. Nghìn năm trước cũng đã vậy và nghìn năm sau cũng sẽ vậy. Hồi đưa ra những quyết liệt kiến nghị để cải cách triều Nguyễn, ông thầy dòng Nguyễn trường Tộ ghét vua đến như thế mà còn phải nói “Người xưa bảo. Dân là gốc của nước. Nó như vậy cũng chưa đúng. Tôi cho rằng vua quan là gốc của nước. Vì không có vua quan thì chẳng bao lâu dân sẽ loạn, tranh giành nhau làm trưởng. Giành giật lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau, oán thù lẫn nhau. Cho nên nước có vua bạo ngược còn hơn không có vua”. Giáo sư Kiêm gay gắt phản biện Vũ. Giáo sư là người hắt hủi đám đông nhưng sâu xa lại muốn đám đông công kênh mình. Vì thế, dù phẩm hàm chỉ bé như hạt cải nhưng trong nhiều bài viết, giáo sư vẫn loè loẹt đại ngôn mị dân. ở đây phải thấy có sự phân biệt rõ ràng thứ hạng, đại loại như là đi máy bay với đi tầu. Thậm chí cụ thể như là việc mua vé đi tầu nằm hay mua vé đi tầu ngồi, không phải cứ có tiền là mua được. Tiếng còi tầu hằn rền rĩ báo hiệu sắp vào một đoạn đường hầm dài. Vũ liên tục hút những điếu thuốc khét lẹt mà lúc nẫy ông trung niên quấn lấy đem ra mời. Bố mấy cô bé đi đến rất chất phác nhìn mọi người cầu thân. Vũ mời uống. Ông ta người gốc Bắc, giọng miền đồng trũng, sau bẩy nhăm vào Nam công tác rồi đưa cả gia đình vào theo. Lần này, cho trẻ con ra thăm quê, con bé út học mẫu giáo ở trong Nam, bây giờ giọng đã sền sệt đặc Sài Gòn. Ông bà Nội mất, chưa bao giờ được trông thấy mặt các cháu nội. Thôi thì vất vả tha hương cũng vì lần quanh cái cuộc kiếm cơm kiếm cháo, mong các cụ đại xá. Mấy con bé thấy bố nói chuyện với người lạ thì cũng dàn dạn. Con bé gầy gò mắt buồn ngồi xuống cạnh Vũ, nó lấy ngón tay trỏ chấm vào chén rượu đưa lên mồm. Hình như bị cay, thè lưỡi ra nhăn mặt. Con bé út đang ngồi trong lòng bố phá lên cười. Ông bố than phiền. Khi ra quen biết bạn bè mua được vé máy bay, khi vào chỉ mua nổi vé tầu ngồi. Đêm hôm qua bọn trẻ con cực khổ, dồn bốn năm chỗ mới được một cái võng nằm chồng chất lên nhau, xung quanh chật cứng toàn những là thuốc lá sợi là cau khô là gạo. Cả sáng nay đám trẻ phờ phạc như mộng du. Lại đến đêm nay, rồi hai đêm nữa. Tôi với nhà tôi thì cố chịu, chỉ thương bọn trẻ. Anh công an rời mắt khỏi cô chị, cười tươi tốt bụng. Anh ta nói, anh ta và Vũ ở giường tầng một đã rộng lại có ít hành lý. Cứ cho hai đứa bé ngủ ở đây, khỏi lo đi. Ông bố cảm ơn, nói đi nói lại, rồi cùng cô bé lớn xin phép về toa cũ. Anh công an nhìn theo cô thiếu nữ thở dài. Đến chỗ khuất đầu toa, thiếu nữ nũng nịu nhìn lại, cái nhìn tin tưởng giao phó đầy trách nhiệm. Người chiến sĩ ga lăng sững sờ uống nhầm hết sạch chén rượu của Vũ. Chao ôi, ba đào của mỹ nhân đã dìm chết biết bao những gang thép của anh hùng. Con bé út nghịch nhiều, đã có vẻ buồn ngủ, nó nằm trên giường mới đầu còn thấy luyên thuyên về lớp Một xê rồi sau im bặt. Anh công an dịu dàng lấy chăn chèn chặt quanh nó. Tầu đều đều chạy.
“ Cháu ngủ trước đi”
Con bé lắc đầu, sao mắt nó buồn thế. Một hàng nước rong đi ngang, Vũ lấy cả gói Hero và ly cà phê đá. Thêm chai xá xị cho con bé. Nó nhất định không uống. Vũ linh tinh hút thuốc mông lung nhìn đêm đen. Hồi mới về nước rồi những tháng đầu tiên mới đi làm, Vũ rất khó ngủ. Vũ cồn cào lật cuốn tạp chí Playboy. Nhiều lúc, Vũ hoặc bỏ quyển sách đang dịch dở hoặc một tài liệu nào đấy đang đọc dở, lang thang đi ra phố. Nừu thuần tuý chỉ là trí thức, thì chẳng giải quyết được việc gì cả. Phố Tràng Tiền bơ vơ gió lim dim vài cây liễu cong mình xuống mặt hồ Gươm. Ngày nhỏ, từ chỗ 1A Hoàng văn Thụ đi lên tới nhà hát Lớn đã cảm thấy xa lắm. Vũ hay đi theo hai anh em song sinh là thằng Trà và thằng Hội cùng dăm thằng nữa, cả bọn thỉnh thoảng đi bơi ở bể bơi thiếu niên Tăng bạt Hổ. Mùa hè của một vài năm đó là khoảng lặng của chiến tranh. Rất nhiều cửa hàng mậu dịch bán lương thực thực phẩm đã đông nghịt người xếp hàng rồng rắn. Mẹ của thằng Vũ dậy từ năm giờ sáng sấp ngửa đi chen chỗ để mua cá bể vụn. Những hè của năm trước, cả khu
tập thể quân đội của Vũ đi sơ tán đều ở tập trung một chỗ, gọi là trại. Bếp của cả trại luôn gây nồng mùi luộc bột mì vo viên. Trong cái trại đó thì hai anh em thằng Trà thằng Hội là hai thằng đầu gấu nhất. Không, hồi ấy người ta chưa gọi là đầu gấu cũng chưa gọi là đại ca mà gọi bằng một cái từ gì đấy, rất ấn tượng mà Vũ không thể nhớ nổi. Vũ khi gặp lại thằng Trà ở Plâyku cũng không thể nhớ nổi. Nó béo khủng khiếp, chủ một trang trại rất lớn làm ăn có vẻ mờ ám. Nó chăm chăm nhìn cái sẹo ở thái dương thằng Vũ, rồi chầm chậm nhận ra Vũ trước. Ngày xưa bố nó là đại tá Vĩnh làm kiểm soát quân sự mặt mũi khắc khổ. Mẹ nó gầy gò loay hoay bán dưa cà. Bà ấy muối dưa cực khéo, đặc biệt là dưa cải củ. Thằng Trà hay xa xỉ cầm một bát ô tô tráng men xanh lốm đốm trắng có tú ụ đầy cơm chan ngập canh dưa. Bọn trẻ con trong khu, mà thằng Vũ thường tự tin đứng giữa, hau háu nhìn âm thầm nuốt chửng nước bọt. Thằng Trà vẻ nghiêm trọng, thỉnh thoảng xúc
vài thìa ban phát cho đám đệ tử thân tín. Thằng Vũ là thủ lĩnh phe đối lập. Vết sẹo ở thái dương nó là do thằng Hội ném gạch trộm từ phía sau. Hai anh em thằng song sinh Trà Hội không sợ ai nhưng nhiều phần có kiêng dè thằng Vũ. Thằng Vũ học giỏi thỉnh thoảng biết lỳ lợm đánh nhau và rất liều lĩnh với bọn con gái. Hồi ở sơ tán, chính nó đã nghĩ ra gắn cái ống nứa vào cái lỗ thủng trông thật tự nhiên bên mái nhà tắm nữ. Bọn trẻ con lần lượt đeo người trên cành nhãn, tư thế cong queo rất khổ nhưng có thằng vắt vẻo đu được hơn mười lăm phút để dòm trộm. Về sau thằng Trà thằng Vũ phá cái ống đấy vì bọn trẻ con đã vô tình nhìn thấy chị chúng nó. Bọn trẻ con xem xong liến láu hay kể còn thằng Vũ thì không bao giờ. Nó chỉ nhớ thôi. Nó đã bị nhớ rất lâu về ngực của chị thằng Trà. Hai bầu vú dậy thì trắng tròn nhưng to nhỏ lệch nhau rất rõ rệt. Không hiểu sao hồi ấy thằng Vũ lại nghĩ là tại chị thằng Trà hay nằm nghiêng. Thằng Trà mời thằng Vũ về cái nhà sàn của nó giữa mênh mông vườn cà phê. ở gian chính giữa có một ảnh phóng rất to chụp một bữa tiệc nhân ngày tôn vinh các doanh nghiệp trẻ. Thằng Trà com lê cà vạt hớn hở đứng lẫn vào giữa các vị lãnh đạo tỉnh, mặt nó trông khá phúc hậu đạo đức. Tất cả bọn vô học lưu manh khi đã có tiền, mặt mũi đều trở nên khác. Chỉ duy nhất đám nhầu nát trong trắng trí thức, thì ở thời thế nào mặt cũng không thể đổi. Vũ lại gần theo phép lịch sự ngắm bức ảnh, chắc cũng đã chụp lâu rồi. Đến non nửa số doanh nhân trong ảnh bây giờ vẫn đang ngồi tù. Thằng Trà bảo thằng Hội đã tức tưởi chết, lúc đang chạy trốn khỏi trại giam. Thằng Hội bị kết án chung thân vì tội tổ chức cướp tiệm vàng có vũ khí. Thằng em song sinh của nó đã thoát gần ra tới đường quốc lộ lại còn cố cưỡng hiếp một con bé chăn trâu mười bốn tuổi. Người địa phương bắn nó bằng súng tự tạo, đầu nát bét. Bố nó về hưu vẫn quân hàm đại tá ăn lương tướng, hơn mười năm trước rút súng bắn chỉ thiên tuyên bố từ hai anh em nó. Thằng Trà hai năm lại đây dư dật có về Hà Nội rụt dè đưa tiền biếu bố. Ông cựu đại tá văng tục nhiều lắm, cầm tập đô la Mỹ chùi xuống đít rồi ném thẳng ra cửa. Thằng Trà nhăn nhở mếu máo kể, hơi nghèn nghẹn mời thằng Vũ uống bình rượu ngâm bóng đái bò tót. Nó hoàn toàn chỉ vì quý bạn cũ, nó không hề biết lúc ấy Vũ đã là một quan chức. Hai thằng lai rai hết gần nửa bình mồi với dưa cải củ muối mà thằng Trà lõm bõm nhớ công thức từ bà mẹ. Vũ bỗng buốt một cái, nhói nhớ mẹ mình. Tất thẩy bọn đã là con giai đều không thể quên được mẹ. Tầu vào ga xép. Tiếng rao bán nước chè hay sắn trong leo lét ánh đèn dầu. Ngôn từ miền Trung khi nói có nhiều nguyên âm với ngữ điệu rất nặng.
“Đi ngủ đi cháu”
Con bé cởi áo ngoài đưa Vũ. Cái áo thun mặc trong bó sát người nó càng làm nó gầy gò. Bộ ngực nhu nhú của nó nổi thành hai gò cân đối tròn nhỏ. Vũ gấp làm tư cái áo khoác để lên đầu giường cho con bé gối. Con bé tin cậy cầm tay Vũ. Nó ít nói thật. Ngày xưa khoảng bằng tuổi nó Vũ cũng ít nói. Khi bị người lớn mắng thằng Vũ chỉ lầm lỳ nhìn. Bà Anna Nghi chưa bao giờ đánh nó. Thằng Vũ nhớ về bố thường đứt đoạn, gượng gạo cố, rất khó chịu. Nó biết nó là vô lý nhưng có cái gì đấy như là hờn dỗi. Chính vì thế nó xa cách mặc cảm nhìn mấy anh chị con ruột cụ Đỗ. Phải thật sự có việc chẳng đừng, nó mới tới nhà riêng của cụ Đỗ. Cụ đỗ hiểu thằng Vũ, cái thói quen đấy nhỏ thôi nhưng cụ tin và thương nó. Giường bên, ông trung niên đã chán sờ soạng quay về giường nằm, thẳng cẳng ngáy đứt đoạn. Anh công an trở mình, cánh tay buông thõng ra ngoài thành giường. Dễ đã đến mười hai giờ có lẻ. Tầu ì ạch leo dốc. Chắc sắp hết địa phận Hà Tĩnh. Cái vùng nhấp nhô bán sơn địa này, hồi còn chiến tranh con gái khét tiếng là bạo dạn. Vài gã nhân viên nhà tầu nghịch ngợm lấy đèn pin soi xuống những lùm cây đen sẫm có lờ nhờ hình người. Một cặp trai gái đang quấn quýt trắng hếu mông chúi mặt xuống cỏ. Giọng đùa tục tĩu lẫn những tràng cười khả ố. Rồi đá rồi sỏi ào ào ném lộp bộp vào thành tầu. Có vài tiếng rú đau đớn man rợ của hành khách từ phía toa ngồi. Vũ rời của sổ, lùi về phía hành lang châm điếu thuốc. Con bé mở mắt nhìn theo, chắc nó cũng khó ngủ. Vũ cầm chai rót thêm ngân ngấn ít rượu rồi dốc ngược uống cạn. Đầu hơi ong ong, Vũ thấy tiếc không cầm theo cuốn truyện chưởng nào của Kim Dung. Lúc mới về nước còn hay nằm khàn ở nhà, Vũ bị nghiện truyện kiếm hiệp. Hoặc đi thuê hoặc đổi tay nhau những bộ trường thiên cụt đầu mất đuôi thủng giữa mà dân đọc giang hồ quen gọi là chưởng “thọt”. Một thằng bạn cũ bên viện Văn đang loay hoay làm tiến sĩ chê cả hai vợ chồng Vũ có gu đọc kém. Thật ra vợ Vũ chẳng đọc cái gì nhưng luôn chịu khó xem đầy đủ phim truyền hình nhiều tập. Cẩm My bảo, khi không còn yêu người ta rất hay nhìn ra những tật xấu của người khác.
“ Xem nhiều phim truyền hình cũng không phải một tật xấu”
“ Em biết, nhưng cái kiểu anh nói ý”
Vợ Vũ cũng rất hay vặn vẹo cái kiểu nói của Vũ. Câu chữ thì không có gì nhưng khó chịu ở cái giọng điệu.
“ Thế thì phải thêm thưa bẩm à”
Vợ Vũ dấm dứt phụng phịu, hình như vợ Vũ có yêu Vũ thật. Gần đây, Vũ thỉnh thoảng quay lại đi nhà thờ vợ Vũ có biết. Còn chuyện Cẩm My, thằng Bảo ngộc nghệch có mách mẹ, nhưng là chuyện nửa tin nửa ngờ. Cô ta chưa đủ gan đến tận văn phòng Bộ để rình dập nên ngô nghê nghe theo vài lời xui khôn xui dại. Vợ Vũ làm cái đầu xoăn tít theo cái mốt của cô nàng diễn viên Nam Mỹ trên truyền hình mà Vũ rất ghét, lúng liếng liếc chồng. Sáng danh Chúa, sao mà nó giống hệt cái xúp lơ được huy chương vàng trong hội chợ rau sạch toàn quốc. Vũ nửa ngồi nửa nằm ở giường, cắm mặt cố tập trung đọc Tân ước, thói quen nông nổi của trí thức cứ nghĩ là mình phải biết thật sâu thật hết. Vợ Vũ rón rén đi lại gần, mặc áo ngủ giá sáu mươi hai Đô. Một chị bạn chuyên chạy “cò” quota dệt vừa gìn giữ được chồng, tư vấn là nên mặc cái áo ngủ này. Gã vụ trưởng chồng chị này nông nổi làm con bé Ô Sin có bầu, rồi dại dột mua cho con bé ấy một cái nhà riêng. Vũ he hé mắt nhìn, tất nhiên là nó đỡ tệ hơn rất nhiều cái váy trong suốt có đám đăng ten lùng bùng quanh cổ.
“ Anh ơi, anh đọc cho em về đoạn bà Đức Mẹ Maria đồng trinh lại biết đẻ con đi anh”
Hỏi mới chẳng han. Cứ hay hỏi vô đạo như thế chả trách rồi đây sẽ bị bọn quỷ sứ xúm vào nó luộc.
“ Anh mua cho em một cái băng Vi đê ô rồi còn gì”
Cái cuốn phim đó Vũ mua ở quầy bán sách Kinh hôm đi chơi nhà thờ đá Phát Diệm cùng với Cẩm My. Nó là cuốn phim của Pháp làm theo đơn đặt hàng của giáo hội Rô Ma. Tiết tấu phim chậm rãi rõ ràng dễ hiểu bay buớm nhiều kỹ xảo. Tiếng Việt được lồng cẩn thận, giọng Đức Mẹ thánh thót trong veo kiểu thiếu nữ Sài Gòn. Mùa hè vừa rồi Vũ đi công tác ở Mỹ có mua một đĩa DVD phim the Passion of the Christ của Mel Gibson. Vũ mua chỉ vì nhớ đến mẹ. Nếu bà Anna Nghi còn sống, chắc bà sẽ khóc suốt khi xem cuộc khổ nạn của chúa Ki Tô. Vợ Vũ nằm xuống cạnh Vũ, hai gò ngực nhão chẩy xệ về phía nách. Thằng Bảo lớn gần ba tuổi vợ Vũ mới cai sữa. Kể cũng lạ, hồi Vũ gần lấy vợ, Vũ đã nghe nhiều chuyện quanh cô ái nữ độc nhất của một trong những nhà thượng thư đầu triều. Vợ Vũ học không dốt, nổi tiếng cả trường Kinh Tế Quốc Dân về chuyện hay cãi thầy. Cũng chẳng phải là cậy thế bố mà chỉ đơn giản nghĩ, người phụ nữ của thời đại mới thì luôn phải có ý kiến riêng. Một thứ sắc sảo ngớ ngẩn của gà công nghiệp lần đầu tiên được thả ra sân ăn thóc. Với nhan sắc tàm tạm lại ở vị thế ấy, vợ Vũ dễ được yêu. Chàng đầu tiên ở gần gần Hà Nội. Chàng thứ hai bỗng xa xa hình như là người tỉnh lẻ. Chàng thứ ba thì đúng người tỉnh lẻ rồi đến chàng thứ tư cũng người tỉnh lẻ nốt. Người tỉnh lẻ thì không xấu nhưng khi ra đến Thủ Đô thường gay gắt có chí tiến thủ. Trở thành “phò mã gia” đáng gọi công nghệ tối ưu. Vợ Vũ láng máng biết và loay hoay âm thầm tui tủi chan chán. Khi Vũ đến chỉ cần thanh lịch kiểu Tràng an, thêm một chút vô tư thêm một chút hào hoa là tự nhiên đám cầu hôn kia lao nhao tan tác. Sau tuần trăng mật, Vũ phòng thân ngấm ngầm lên một kế hoạch nhằm đối phó với những thói quen hợm hĩnh thường hay có ở đám trọc phú tiểu thư. Phúc nhà Vũ còn dầy, vợ Vũ chỉ nông nổi ghê gớm thế thôi. Vợ Vũ thật thà mặc cảm là mình không còn trinh khi đến với chồng. Một cảm thức bây giờ hiếm hoi như gấu Trúc đẻ sinh ba như quan chức lại biết chân thành xấu hổ. Sâu xa, vợ Vũ giống như nhạc mẫu của Vũ, kính sợ đấng phu quân và quá đà yêu con. Phụ nữ Việt Nam đáng trọng và đáng yêu là nhờ có phẩm chất này. Sương đêm nhè nhẹ loãng ẩm trong gió ngược. Vũ vất điếu thuốc cháy dở qua cửa sổ khung gỗ nhăn nheo dạn chằng buộc dây thép gỉ. Tầu chạy chậm đến mức Vũ trông thấy rõ cái tàn thuốc đỏ lìm lịm tắt trong đám bụi cây lúp xúp ven đường ray. Vũ nằm xuống cạnh con bé thư dãn duỗi mạnh chân. Có tiếng lắc cắc dọc theo những đốt xương sống. Con bé xoay hẳn người ôm lấy Vũ. Chắc nó cũng hay ngủ chung với bố nó. Chân tay nó dài loằng ngoằng mới gầy làm sao, toàn xương dưới lớp da khô. Vũ sẽ phải ở Sài Gòn chừng một tuần rồi đi xuống miền Tây chừng nửa tháng. Nghe nói dân miệt này uống rượu dữ. Khi uống nhiều rượu người ta hay bồn chồn dễ kích động.
“ Sao cháu không ngủ”
Con bé lắc đầu rúc sâu vào vai Vũ thở đều đều. Đèn trên trần lim dim lúc lắc nhờ nhờ vàng. Vũ xoa mớ tóc khét và cứng của nó. Vẫn còn tanh tanh nhiều mùi trẻ con nhưng đã phảng phất có mùi thiếu nữ. Im im một đoạn. Con bé hơi ngẩng, chắc nó lạ giường. Lạ là một cảm giác rất khó tả, hình như là loay hoay hình như là bất trắc. Vũ lần đầu tiên làm tình với một thiếu nữ người Nga, rất lúng túng với nhiều sự tò mò. Cái đám lông vàng loăn xoăn như râu ngô. Cái giường rộng với những lò xo đã rão hằn rõ vào cái đệm đã rúm dó bẹp dí. Trước khi tới Liên Xô, Vũ cũng như tất cả sinh viên Việt nam khác, chỉ toàn ngủ trên những giường giát cứng gỗ thông có rải chiếu. Cái con bé người Nga đấy thỉnh thoảng giữa chừng bỗng bật cười khanh khách. Thật không thể hiểu nổi. Tại sao có những thằng người Việt lại lấy được vợ là người nước ngoài. Vũ giống hầu hết đám thanh niên phương Đông lần đầu xuất ngoại, cồn cào bạo dâm trước gái Tây rồi vật vã mặc cảm lúc trên giường. Đấy có phải là câu hỏi từ hồi xa xưa mà Vũ vẫn còn nhớ. Càng lớn người ta càng ít hỏi và chỉ thích huyênh hoang cưỡng đoạt trả lời. Khẽ cảm thấy lạnh, Vũ hạ bớt cửa sổ tầu che cho đỡ gió. Con bé mặc áo thun mỏng, cổ khoét rộng nằm co ro. Vũ rút cái áo khoác đắp lên vai nó, nhè nhẹ luồn tay qua gáy con bé. Trong ánh đèn lờ mờ vàng, mắt nó đen đến kỳ lạ.
“ Lạnh không cháu”
Vũ vòng tay qua người con bé khẽ ghì. Nó dài gần bằng Vũ phải mười một mười hai tuổi rồi. Chợt con bé run run, da nó bừng bừng như sốt dở. Vũ đặt môi lên trán nóng, nghe rõ tiếng đập gấp bên trong đầu con bé. Ngực nó tỳ vào ngực Vũ, hai núm vú nhỏ xíu gai gai. Con bé nhắm chặt mắt lả người thở từng tiếng ngắn nặng. Vũ vuốt dọc lưng nó, bờ vai mỏng lẩy bẩy. Vũ cố tình dâm đãng cắn nhẹ vào dái tai con bé. Một tiếng hú còi miên dại vẳng đậm giữa những tiếng đều đều của tầu chạy. Vũ gây gây như bị kinh hoàng bật ngồi nhổm dậy. Bao nhiêu năm đã qua, có bao nhiêu chuyện Vũ đã quên nhưng cái đêm đi tầu đó Vũ luôn bị nhớ. Một cái nhớ dấm dứt. Vũ với cốc nước xá xị dang dở mà con bé có nhấp một ngụm, đá trong cốc đã tan, uống một hơi gần hết rồi đi ra cửa sổ tầu hút thuốc. Suốt từ lúc ấy cho đến khi dằng dặc tầu vào một ga xép, tuyệt đối không thấy một tiếng còi nào hú nữa. Màn đêm lờ nhờ loãng, loáng thoáng những dáng nông dân hoặc đàn ông hoặc đàn bà lầm lũi gánh rau đi bán phiên chợ sớm. Nhiều nhiều năm sau, ở vài chuyến công tác lỡ làng thất thường phải đi vội tắt ngang các làng quê Việt, qua cửa kính ô tô, Vũ vẫn thấy những dáng người mòn mỏi hoặc gánh hoặc thồ xe đạp mờ mịt đi trên đường đất ướt sũng sương đêm. Người ta thường huyênh hoang khoe, trí thức thì ít ngủ, một kiểu nói ra rả chăm chỉ lao động. So với nông dân, trí thức đỡ khổ hơn nhiều, bọn họ không phải đơn điệu cày sâu cuốc bẫm cả trong mơ. Vũ hiểu được cái quyết liệt của đám bạn sinh viên nội trú ngoại tỉnh. Không hẳn là mưu sinh miếng ăn, tất cả đều muốn bứt muốn thoát khỏi những lờ đờ mê muội của cuộc sống nông dân mộng du cha truyền con nối. Quân đã ngà ngà hơi say, đẩy con bé ca ve phốp pháp Thái Bình ra xa, cố vẻ nhẹ nhàng hỏi Vũ.
“ Ông có thấy ông trịnh thượng lắm không”
“ Hình như nhiều lúc thuần tuý tôi chỉ là thằng tiểu thị dân”
“ Ông bắt đầu lên Hà Nội lúc ông khoảng ba tuổi. Còn tôi, hơn ba đời loay hoay buôn bán ở phố Hàng Bạc. Ông nội tôi là một trong vài thương gia đầu tiên cho Bạch thái Bưởi vay tiền để thuê kinh doanh tầu khách”
“ Có lẽ chúng mình đã hiểu sai về người nông dân”
“ Không phải hiểu sai mà chẳng hiểu cái đếch gì cả. Thế nhưng ở người có chức như ông thì trịnh thượng dù sao vẫn là chân thành”
“ Ông ghét bọn tôi thế cơ à”
“ Tôi nói chân thành là vì ông có nghĩ đến. Còn những người khác đồng liêu của ông thì chẳng bao giờ nghĩ. Với bọn họ, thân phận nông dân là một khái niệm xa xỉ”.
Quân lảo đảo rót thêm cho Vũ, Vũ hơi khó chịu úp chén. Rất nhiều những đồng liêu của Vũ có xuất thân từ nông dân. Và họ đều trăn trở một nỗi niềm thương cảm thật. Bố của họ, mẹ của họ, những ký ức rứt ruột thân thiết nhất của họ. Hơn nữa, nếu tất cả là mị dân thì cũng không phải đơn giản như cách Quân nói. Người lãnh đạo vẫn phải nghĩ vẫn phải quan tâm kể cả những điều họ không thích. ở những thế đứng khác nhau thì đương nhiên cách nhìn phải khác nhau. Cái chính là một sự biết thông cảm. Cái châm chích ngông nghênh ở Quân là đặc trưng cho sự mù loà đầy thiển cận của đám trí thức. Họ tưởng đã đưa ra một tiên đề và tự mãn bất cần ai chứng minh. Vũ nôn khan đứng dậy tắt đèn rồi kéo dây mở rèm cửa sổ của phòng karaokê. Bàn rượu qua đêm lộn xộn bừa bãi cặn đọng một không khí trác táng. Đã hơn bốn giờ sáng, trời tang tảng và Vũ bải hoải không muốn nhớ. Vũ quay vào mệt mỏi thấy con bé đang ngồi, nó đã mặc cái áo khoác ngoài của nó.
“ Ngủ đi cháu”
Con bé vội vàng nằm, động tác như người máy. Vũ nằm cạnh xoay lưng lại và thiêm thiếp hình như Vũ có lơ mơ ngủ được. Tầu lại vào ga, có í ới chập chờn nhiều tiếng người. Con bé mắt buồn không thấy đâu nữa, bà cụ ở giường trên đã ngồi dậy lầm nhầm tụng kinh. Vũ không đánh răng mua một cốc chè tươi súc miệng rồi đắng ngắt hút thuốc. Con bé út thức dậy bi bô cười lấy ra một cỗ bài nhỏ ép anh công an đang nôn nao ngái ngủ, chơi tiến lên tay đôi. Vũ lững thững xuống ga, lơ lửng đi tìm một hàng cháo gà, gọi thêm cỗ lòng và một cốc rượu lớn. Xa xa phía chân trời vài vệt đỏ nắng rạng đông là cái cây cầu nổi tiếng trong cuộc chiến tranh mà rất nhiều người thua trận thích gọi là nội chiến. Vũ ghét cái kiểu gọi này. Vũ đã vài lần gay gắt tranh cãi với đám trí thức hải ngoại. Tiến sĩ Quân nheo mắt nghiêm túc bảo Vũ. Ông cũng không hẳn đúng. Một cuộc chiến hoành tráng như vậy thì không thể chỉ có duy nhất một tên gọi. Vũ lắc đầu. Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã chẩy trong Vũ một dòng máu hào hùng. Vũ rất biết là mình cần phải biết ơn cái gì. Vũ cồn cào muốn nhớ về người cha liệt sĩ mà Vũ luôn âm thầm hãnh diện nhưng ngay lúc này bỗng thấy mờ mịt bất lực. Vũ vô thức đứng dậy muốn nhìn rõ cây cầu. Giống như nhiều chứng nhân lịch sử, nó nằm trầm ngâm bi tráng. Vũ cố không muốn nhìn về toa tầu của đêm qua và cố dằn cái đột ngột tủi thân xấu hổ hèn hạ đau đớn. Chợt nhiên trong sâu xa, Vũ nhói một khoảng hư vô trống trải đến khó tả. Đây là lần đầu tiên Vũ có cái cảm giác kỳ dị này. Rồi đây cái nhói trống vô nghĩa bất khả giải thích ấy thỉnh thoảng lại chập chờn hiện về hành hạ Vũ. Những lúc ấy Vũ loay hoay khát khao muốn tìm gặp cụ linh mục Đức. Tầu lại chạy. Ông bố đến, theo sau là hai chị em con bé lớn. Con bé mắt đen tóc loà xoà trước trán như muốn che đi cái nhìn. Ông bố đưa cái bánh mì kẹp thịt cho con nhỏ út, nó vừa ăn vừa tiếp tục chơi bài. Ông ta ngoái lại, cô nhớn đưa cho bố chai rượu. Tất cả mọi người đều từ chối, Vũ và ông ta đành song ẩm. Con bé mắt buồn thỉnh thoảng quay lại, cặp lông mi dầy khe khẽ sụp nhức nhối sẫm đen. Vũ vẫy tay, nó ngoảnh đi chỗ khác, nét bơ vơ sợ của con chim đã bị chộp hụt. Vũ và ông bố đề cập về cuộc gặp gỡ sắp tới giữa Rê Gân và Anđrôpốp. Con bé lớn và anh công an đang tách đôi nói chuyện cạnh cửa sổ. Thầm thì. Cái năm đầu tiên mới về nước Vũ để ý ở Việt Nam có rất nhiều người hay thì thầm. Tầu vào đoạn chạy êm. Tiếng ông bố nói khao khao nhoè nhoẹt vô nghĩa. Uống nữa không. Trời ơi. Con bé bỗng đi ra đầu toa mắt vẫn buồn rười rượi. Cánh đồng cằn miền Trung trơ cỏ lướt loé nắng. Con bé không thấy vào, không bao giờ vào nữa. Không bao giờ Vũ còn gặp cặp mắt buồn như thế mà lại trên khuôn mặt trẻ con. Vũ ném vỏ chai rỗng qua cửa sổ, nó hết rượu nẩy vung một tiếng khô khốc. Không vỡ, nằm trơ trọi sắc cạnh thuỷ tinh gay gắt dưới ánh mặt trời.
Vũ hỏi giáo sư Kiêm.
“Thầy thấy công việc như thế nào.”
“ Tốt thôi, người ta đã đến được sếp cỡ đấy nói chung là không khó dậy”
Những người khó dậy không phải là những người bị ngu hay những người bị chán. Những người khó dậy là những người sâu sắc chẳng cần muốn thêm một cái gì nữa. Họ rất biết họ rất hiểu và nguy hiểm nhất là họ tự lý luận được. Vũ chợt nhớ rằng, khoảng mười năm lại đây hình như ngoài cuốn tiểu thuyết Cẩm My đưa Vũ của một tay nhà văn rất thân với cô mà Vũ chưa biết mặt, thì Vũ hầu như chẳng đọc trọn vẹn thêm bất cứ một cuốn sách nào. Tất nhiên là không kể những trang bản thảo của cụ linh mục Đức, trong đó chép một cái truyện có vẻ hao hao giống tiểu thuyết kể về một giáo sĩ có tên là Alexandre de Rhodes./.
2
Chiều xuống trên sông của xứ Đàng Ngoài bao giờ cũng bàng bạc một nỗi buồn vô tận. Mới cách kinh thành chưa đầy trăm dặm mà những làng mạc hai ven bờ đã trông thật khác. Lúc này tuyệt chưa thể nghe được tiếng chuông nhà thờ. Liệu sáu mươi năm nữa hay một trăm năm nữa, những tiếng chuông trầm buồn ngân nga ấy sẽ có thành một phần hồn của làng quê Việt. Rhodes nằm dài ở đầu mũi thuyền nhỏ có lèo tèo chừng dăm tay chèo, thật khác xa cái cảnh hùng tráng của những ngày đầu tiên Rhodes tới đây. Vậy mà đã tròn hai năm. Thời tiết tàn đông của phía Bắc nước Việt thất thường. Lẩn khuất giữa những đám mây ủ ê thỉnh thoảng có một vệt rét đậm. Tâm trạng của toán người bị đầy biệt xứ là xót xa nặng nề. Viên cai đội giám thị kiêm luôn làm thuyền trưởng, tò mò với cái ống nhòm, chốc chốc lại đưa lên nghiêng ngó nhìn. Rhodes thở dài, nheo mắt nhìn ngược tít tắp sông Hồng. Phía xa xa khuất nẻo sương khói là kinh thành Thăng Long. Đuờng phố Kẻ Chợ sầm uất rộng, lòng phố lổn nhổn lát đá hộc đủ cho mười đến mười hai thớt ngựa chạy song song. Nhưng chẳng dễ gì băng qua được, vì những gồng những gánh đa phần là của người bán trầu cau. Những thiếu nữ trinh trắng những thiếu phụ có chồng tất thẩy răng đều nhuộm một mầu nhưng nhức đen nồng nàn dễ chịu mùi trầu. Dân Đàng Ngoài ví nó giống như hạt na. Và những hạt na ấy hơn một lần cắn sợi chỉ thừa khi đang khâu dở vết rách vai trên chiếc áo chùng thâm của Rhodes vào cái hôm đám cai binh sặc sụa mùi rượu cuồng loạn đập ảnh Chúa Cứu thế gắn ở bàn thờ gỗ xoan. Rhodes nằm sụp xuống che ảnh Chúa, mặc cho những tay thước hung dữ vụt xuống lưng và vai của mình. Vệt nắng ngoài hè nhà nguyện đã nhạt hẳn và cặp mắt sẫm của cô bé long lanh đậm nước.
“ Về đi con”.
“ Thưa, cho con xem lại cái vết thương họ đã đánh thầy”
“ Thôi, không có gì đâu. Cha cám ơn con rất nhiều”.
Rhodes cố tránh cái nhìn thiết tha của thiếu nữ mới lớn. Đấy có phải là một trong vài lý do để Rhodes da diết nhớ hơn một năm rưỡi ông ở Thăng Long. Hôm nay là ngày thứ ba sau cái buổi chúa Trịnh Tráng công khai tuyên cáo trục xuất vĩnh viễn hai giáo sĩ dòng Tên ra khỏi địa phận Đàng Ngoài. Cả một biển người cuồng nộ và may mắn thay cho hai thừa sai, dân xứ này không có tục ném đá. Đám nho sinh nguyền rủa cay nghiệt, đám thị dân chửi bới tục tĩu. Alexandre de Rhodes cúi đầu. Lạy Chúa, Người không cấm chúng con tử tiết vì đạo mà chỉ cấm chúng con không được trở nên liều lĩnh. Nhưng không phải chỉ toàn đau đớn như vậy. Phía khuất đường lớn góc rẽ vào phủ chúa, đám giáo dân đã được rửa tội đứng dúm dó âm thầm nức nở khóc. Họ hãi sợ nhưng quyết liệt liêu xiêu tựa vào nhau không chịu tan. Và Rhodes cũng đã trông thấy cô bé ấy, cô bé có tên thánh như hương hoa, Flora Huệ. Cô bé run rẩy đứng cạnh hai thầy giảng trẻ, Phanxicô Đức và Inhaxiô Nhuận. Đây là những hạt giống kiên trinh mà Rhodes đã vất vả gieo trên mảnh đất gian nan nhiều xót thương này. Là của lễ đầu tiên của tân giáo đoàn dâng lên đức Giê Su Kitô, của lễ bằng máu mình hiến cho giáo hội Đàng Ngoài. Ân sủng của Chúa sẽ chói rọi khắp khắp. Ngay từ hôm rời áo Môn lần theo bờ biển Hoa Nam để tới kinh thành Kẻ Chợ, Rhodes đã sâu sắc tin như vậy. Kể cả khi cơn bão đầu mùa khủng khiếp năm Đinh Mão đánh dạt tầu vào Cửa Bạng thì đấy cũng là ý Chúa. Thừa sai Rhodes và Thừa sai Marques đã được chúa Trịnh đang ngự chiến ở đó chấp thuận cho yết kiến. Hai giáo sĩ khấu đầu kính cẩn dâng lên chúa thượng hai viên ngọc quý để lên bìa cuốn Thông hiến đồ thuyết do cha Lợi mã Đậu soạn, in tại Bắc kinh năm 1607. Nhưng chúa thượng thích nhất là những đồng hồ chạy cát và chạy cót, dân xứ này quen gọi là sa lậu và tự minh chung. Chúa thượng mỉm cười.
“ Ta muốn các thầy ở lại với ta một hai năm, ta muốn bàn bạc vài điều.”
Rhodes âm thầm cảm tạ ông thánh thân phụ của Chúa Giê Su, vì đây là ngày lễ hiển linh kính danh ông. Rhodes sẽ lấy tên ông đặt cho Cửa Bạng là cảng thánh Giu se. Rhodes biết chúa Trịnh Tráng muốn điều gì. Mối lo dằng dai ám ảnh về những khẩu trọng pháo của xứ Đàng Trong, ưu thế quân sự duy nhất mà quân đội phía Bắc vắng thiếu. Chỉ có thương thuyền của người Bồ đào Nha mới chuyên chở được nó. Nhưng gì thì gì, hành trình truyền giáo mang sứ mệnh của Chúa đến xứ Đàng Ngoài bước đầu đã thành công. Thừa sai Rhodes và những người đồng hành được phép lên thuyền ngược sông Mã qua kênh đào Mã Viện để tới sông Đáy rồi ra sông Hồng về thẳng kinh đô Kẻ Chợ. Đấy là bốn giờ chiều hôm trước của ngày lễ Đức trinh nữ và Nữ vương Thiên quốc đi thăm viếng mang phúc lành tới nhà Thánh nữ Isave. Đất Đàng Ngoài vài ngày nữa rồi vài trăm năm nữa sẽ chứng kiến sự hiển hiện của một giáo sĩ. Họ sẽ lấy tên ông khắc vào bia rồi sẽ vất đi. Họ sẽ lấy tên ông vinh danh đặt thành tên đường và cũng sẽ xoá đi nhưng rồi lưỡng lự lại giữ. Một tôn giáo mới hoàn toàn từ bên ngoài, đã manh nha, sẽ trỗi lên trong tâm linh Việt. Tại
sao một người hoặc một dân tộc lại cần có đức tin. Nó là hệ luỵ từ tham lam muốn bành trướng thần quyền của một giáo đoàn hay là cái nhu cầu đương nhiên bức xúc từ trong nội tại. Nền trời trong xanh nhờ những cơn mưa rào ở giữa mùa hè có nhiều nắng. Cha Christophoro Borri đã hết lời ngợi ca con người và thiên nhiên ở xứ sở này. Một miền đất mà chắc chắn Chúa đã chọn để gieo giống.
Nguyên chú hình như của linh mục Đức.
Khi ăng-Ghen nói “ Nếu con bò mà cũng có đức tin, thì Thượng Đế của nó đương nhiên phải có đầu bò”. Ăng-Ghen đã hiểu sâu sắc tôn giáo. Trong muôn loài, khi sắp tới kỷ nguyên Ki-Tô thì con người là một dạng bị tha hoá nặng nhất. (Tội tổ tông chỉ là một giới luật, một răn dậy của Đức Chúa Cha). Con người, chính là loại sinh linh cần phải cứu gấp gáp nhất. Và giáng thế, Chúa Giê-Su đã chọn hình hài con người là lẽ vậy. Cũng theo thuyết lý đó, Người đã chọn ít-xa-ra-en là điểm tới và dân Do Thái là dân riêng. Đó chính là nơi mà Người đầu tiên phải giải thoát. Hãy nhìn, quá nhiều những đô thị ở vùng đất này đã trở nên giả hình và truỵ lạc. Và giáng sinh tại Bethlehem hoàn toàn nằm trong chủ định của Chúa. Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm bảo “Người đầu tiên vào địa ngục sẽ là ta”. Công án đó thật chính đáng và minh bạch. Thêm nữa, Chúa Giê-Su đã chọn mảnh đất lẫn lộn đen trắng ấy để gieo giống Phúc Âm đầu tiên bởi vì nó cũng là nơi bảo tồn và nuôi dưỡng mạnh mẽ đức tin nhất thần luận.
Thế nhưng ngay lúc này đây, mặt đất Việt đang nghèn nghẹn một mầu xàm xạm thuốc súng, rải rác nhiều xác chết bị lấp bùn nhão sơ sài vội vã, những người chưa bao giờ biết phép rửa và vĩnh viễn không được chịu phép xức dầu. Cuộc nội chiến đã lên đến đỉnh điểm kinh hoàng giữa những người cùng mầu da cùng máu huyết mà những khi bình thường tất thẩy bọn họ đều hoà nhã hiền lành hiếu khách. Gần ba trăm năm sau chữ quốc ngữ đã lên ngôi trên toàn cõi Việt và lịch mặt trời phương Tây cũng đã thông dụng theo, thì ngày hôm nay được định là ngày mồng một tháng bẩy năm 1627. Trước ngày này chừng một năm rưỡi, xứ Đàng Ngoài duy nhất có linh mục người ý Julien Baldinotti tới truyền giáo. Vất vả suốt hai tháng, ông ta chỉ làm phép rửa cho được bốn đứa trẻ sắp chết. Trong lịch sử trung đại rồi cận đại cả đến hiện đại của nước Việt, xứ Đàng Ngoài luôn đến với phương Tây chậm hơn xứ Đàng Trong. Alexandre de Rhodes đã biết vậy. Ông biết một cách sâu sắc giống như cái biết của một thương gia có kinh nghiệm thăng trầm biết cái ma lực khủng khiếp của bạc vàng. Chính tay ông đang cầm bức thư của cha Baldinotti khẩn thiết kêu nài các bề trên xin gửi thừa sai tới Đàng Ngoài. Thế nhưng, ở Ma Cao giới thương gia không tha thiết lắm việc buôn bán với xứ ấy. Một phần vì người Bồ Đào Nha rất nghi ngại thái độ của nhà Vương vốn bị một quan cận thần ghét người Bồ thao túng. Phần nữa, những thương gia đã tới Đàng Ngoài lần trước đã lỗ lã nhiều, đến độ không ai muốn sang đó thêm lần nữa. Mà không có tiền thì… Cám cảnh thế sao, chả trách gã phản thệ Lu Thơ người Đức mỉa mai Đức Thánh cha, khi đồng tiền rơi xuống thì linh hồn bay lên. Đây là lần đầu tiên Rhodes tới Đàng Ngoài. Sóng biển xanh mặn lắc thuyền nhè nhẹ, không cần phải dướn người hay dùng ống nhòm cũng có thể nhìn thấy những rặng cây xanh xa xa trên một đảo nhỏ trông dịu dàng nhiều nữ tính. Trong tâm thế chung của các cư dân duyên hải vùng Đông nam á những Thánh nữ luôn có vị trí thật cao. Hôm xuống thuyền từ áo Môn, Rhodes đã để thêm nhiều mẫu ảnh Đức Bà vào cái rương mây nhỏ, quà tặng riêng của mệnh phụ Gio Anna cho Rhodes hồi ông còn đang ở Hội An. Rhodes đã vô thức để Hội An thật đậm vào sâu ký ức. Cái thương cảng nhỏ nhắn cạnh sông Thu Bồn tuyệt vời đẹp, có nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo giầu có người Nhật Bản chạy nạn từ các cuộc bách hại sang đây chăm chỉ mà thành thương gia. Nhờ họ mà Rhodes đã biết quý phu nhân Gio Anna gốc gác người Việt Đàng Ngoài, sau cuộc di dân vĩ đại từ thế kỷ mười sáu theo chiều Bắc-Nam định mệnh lịch sử, bà đã là goá phụ của một nhất đẳng đại thần Đàng Trong. Bà có cái mũi cao gần giống người Âu, phảng phất hình Đức Mẹ theo kiểu vẽ của danh hoạ Raphael. Và cặp môi. Lạy Đức Mẹ nhân từ, người luôn khoan dung với tất cả lỗi lầm của chúng con. Lúc đó Rhodes chưa thể đọc được lời của Đức Thánh cha Gio an Phao lồ đệ nhị tôn vinh Đức Mẹ “ Đức trinh nữ Maria Thánh Mẫu chí thánh của Thiên Chúa, là tuyệt tác của sứ mệnh ngôi Con và Thánh thần trong thời viên mãn. Lần đầu tiên trong chương trình cứu độ và nhờ chuẩn bị trước, Chúa Cha đã tìm được nơi Đức Maria chỗ ở để Chúa Con và Chúa Thánh thần cư ngụ giữa loài người”. Giọng có tuổi của Đức Thánh cha trước micrô được khuyếch đại qua ămply nghe rõ từng nhịp run run. Lịch sử của Giáo hội không chép không ghi và không cho phép một Giáo hoàng về hưu. Và Đức Thánh cha người sẽ vẫn nói. Và thời đại của những con chíp điện tử liệu có làm người ta bớt hoang mang khi nghe thuyết giảng Phúc Âm. Cả biển người quần là áo lượt sang trọng vừa quỳ vừa lẩm nhẩm khấn thầm. Còn bây giờ, linh mục Rhodes cũng quỳ và đọc thật chậm mười lượt kinh Ave Maria bằng tiếng Việt. Đến lượt đọc cuối, Rhodes vớ cuốn vở giấy nhám ép bìa vỏ cây sậy ngẫu
nhiên mua ở một buổi chợ phiên miền quê Avignon, lưỡng lự lấy bút lông ngỗng chấm mực định sửa câu Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Cái thói quen của một học giả trẻ. Không chắc. Có phải là Rhodes thấy câu đó là ngô nghê chưa thoát ý. Không biết, chữa là chữa thôi. Cũng có thể hôm ấy là một ngày rất buồn. Ngày hôm ấy Alexandre de Rhodes nắn nót ghi trong nhật ký là ngày 13/12/1625. Xứ đạo tiên khởi Thanh Chiêm đang có bão muộn, dông kéo mây xám bơ vơ mênh mông chạy. Cái tin đắm thuyền được trực tiếp viên quan tuần kiểm duyên hải, người đã hơn một lần nhận hối lộ thẳng từ tay của Rhodes, hộc tốc phi ngựa đến báo. Nhìn vẻ mặt đột ngột ngơ ngác của ông ta, kiểu nói ấp úng của ông ta thì Rhodes biết cái chết của cha Pina có nhiều khuất khúc. Sau cái lần chữa bệnh không khỏi cho Sãi Vương Nguyễn phúc Nguyên, linh mục Francesco de Pina bị mất uy tín khủng khiếp. Đều đặn ngày ba lần Chúa Sãi ngâm người trong bồn gỗ táu chứa đầy nước sền sệt ấm nấu từ lá cây Hồng Ma ( tên một loại lá dại rất hiếm mà hơn ba trăm bẩy mươi năm sau nhà văn Bảo Ninh đã tìm thấy nó ở cánh rừng hoang vu đại ngàn Tây Nguyên khi ông còn là một gã binh nhất cồn cào đói lang thang đi đào sắn trộm) và linh mục Francesco vừa đọc kinh vừa lấy thanh gỗ Kỳ nam có trầm vụt từng nhát nặng lên lưng của Chúa để trừ tà khí. Những cái nhọt của Chúa Sãi càng ngày mưng mủ càng nặng. May nhờ bài thuốc Bắc của thầy lang Tầu gốc Minh hương họ Chu, mình rồng mới đỡ. Nếu không có sự can thiệp dữ dội của hoàng tử Nguyễn phúc Kỳ, thì đám đại thần có móng tay lá lan đã nuốt chửng linh mục Pina. Bọn quý tộc quen sạch sẽ ấy bị cái mùi khắm lặm bốc ra từ đám nhọt của Chúa ấy hành hạ. Khi phải đứng sát đọc tấu chương trình Chúa, bọn chúng luôn bỏm bẻm nhai trầu cay mà vẫn âm thầm oẹ khan. Cha Pina mắt sắc sảo đại bàng vừa cao vừa lòng khòng gầy, là giáo sĩ duy nhất giỏi tiếng Việt của nhóm thừa sai người ngoại quốc lổn nhổn Bồ, Hoà lan, Pháp đầu tiên tới Đàng Trong. Cha cũng là người đầu tiên gây thù chuốc oán với đám quan và lại bản địa có tín ngưỡng mông muội man rợ. Hồi còn là chủng sinh tập viện dòng Tên ở Rô ma, Rhodes có đọc cuốn du ký Viage del Muldo bản in năm 1614 của linh mục người Tây ban Nha Ordonez de Cavallos kể chuyện rằng ông đã truyền được đạo vào kinh đô nước Đàng Trong. Vị vua khai quốc là Nguyễn Hoàng thích lắm. Ngày 17/9/1591 chúa Nguyễn Hoàng chính thức chịu phép rửa lấy tên thánh là Grégerio. Đấy là tưởng tượng hay là khát khao. Du ký là thể tài văn chương và văn chương thì được phép bịa đặt được phép thăng hoa. Những ân sủng từ Phúc Âm được người Việt tiếp nhận dễ dàng đến thế chăng. Họ đã có rất lâu tôn giáo của họ và còn lâu hơn nữa là Đức Tin rất riêng của chính họ. Không phải đơn giản hay nông nổi mà họ thờ tà thần. Chính ở điểm này cha Pina đã bộc lộ quá nhiều sai lầm. Giáo sĩ Pina thường nghiến răng lúc ngủ say và khi nói cặp môi mở hẹp tạo vẻ nghiệt ngã. Những tín đồ bản địa đầu tiên đến chịu phép rửa, bắt buộc phải theo lời cha vứt đi những bát cắm hương ám chặt khói vốn đã vài đời có thói quen thờ tiên tổ. Cha Pina kiên định và uyên bác. Sống dài ở ven biển, hay phải đi lại bằng thuyền nhưng ông có cố tật sợ nước. Mùa Phục sinh đầu tiên của Rhodes ở Hội An bão đến sớm. Cha Pina và Rhodes đi trên một chiếc thuyền nhỏ tới giáo xứ mới mở Nước Mặn. Sóng cuồn cuộn đen và mây cuồn cuộn xám. Cha Pina run rẩy nắm chặt cây thánh giá bạc xỉn mồ hôi lẩm nhẩm đọc đi đọc lại Credo, sắc mặt tái mét. Một lúc sau cha nôn, và phía dưới đũng quần đẫm đầy nước đái. Cái gì đã làm cho một con người nhỏ bé luôn dúm dó vì sợ trở nên một thừa sai lồng lộng quật cường. Lòng tin yêu Chúa vô bờ hay sự khải ngộ sâu xa của sứ mệnh đã được mặc định từ Thiên chức. Và lạy Chúa, con cũng đang hỏi con. Con chưa phải chưa hề là một sứ đồ, nhưng nếu không nghĩ thế thì làm sao con có thể vượt qua được vô vàn hiểm ác của quỉ ma. Hoang mang là đương nhiên. Cô bé Flora Huệ khẽ nghẹn ngào, chỉ những khi con nhìn thấy cha thì con mới hết hoang mang. Thôi đừng nghĩ quẩn nữa, đã thật là tình yêu thì tất thẩy đều trong trắng. Sáng danh Chúa, liệu có phải ý của Người bao giờ cũng tăm tối. Những trí thức nhiều chữ theo Nho theo Phật ở xứ này khi chân thành tranh luận
Thần học thường bảo, thắng được mình rồi mới thắng được ma quỉ. Cha Pina hơn Rhodes chừng tám tuổi, chính danh là sư huynh và sâu xa trong thâm tâm Rhodes luôn coi ông là thầy linh hướng. Gần như toàn bộ những nghiên cứu về việc La tinh hoá tiếng Việt mà Rhodes đang làm đều dựa trên đề cương khởi thảo của Francesco de Pina “Nhập môn tiếng Việt Đàng Trong”. Tiếng sóng vỗ lóc bóc đều đều vào mạn thuyền, Rhodes ngắm kỹ mẫu ảnh Đức Mẹ vô nhiễm vẽ trên kính, khuôn mặt hơi dài theo kiểu các bích hoạ của trường phái tranh thánh I Pha Nho. Bà Gio Anna mỗi buổi chiều xuống có thói quen đứng hàng giờ cầu nguyện dưới ảnh Đức Mẹ. Cặp mắt dài đen bơ vơ buồn. Vẫn cặp mắt ấy khi nhìn Rhodes, bao giờ cũng long lanh nửa như có nước nửa như có nắng. Hồi còn là khuê nữ, tiểu thư duy nhất của quan phó Chưởng trấn, bà đã vô cùng sùng kính Quan Âm Bồ tát. Sau khi xuất giá để trở thành đệ nhất phu nhân của Đại Chiêm hải khẩu, thì bà lập hẳn một am lớn sát phía hậu khuôn viên để thờ đức Phật Bà. Khói trầm nghi ngút bảng lảng quanh tượng Quan Thế Âm bằng gỗ trắc vàng rượi. Cái am đó hồi Rhodes mới đến Hội An chỉ còn thấy nền hoang. Non ba trăm năm sau cũng trên cái nền đó người ta đã dựng lên một nhà thờ, mà thánh quan thầy là Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội, có kiến trúc vào loại đẹp nhất miền Trung nước Việt. Chỉ có lòng tin tôn giáo mới hiến tặng vô tư cho các nền văn hoá những kiệt tác vô giá. Cho dù chúng không hẳn là sự dịu dàng giao thoa mà chỉ là sự hung hãn chà dẫm lên nhau. Tròn ngày giỗ hết của chồng, bà Gio Anna cho xây đối diện cái nền am cũ một nhà nguyện có tượng Chúa Giê Su khổ nạn khang trang với vì kèo bằng gỗ lim. Hình như một lần, cha Pina đã mời Sãi vương Nguyễn phúc Nguyên tới đó để chữa bệnh. Còn Rhodes, cũng đã hơn một lần Rhodes được mời tới cái căn nhà sau ngôi nhà nguyện đó. Qua một bức tường thấp là một gian dài thăm thẳm lờ mờ có nhiều ánh nến. Cô bé người hầu dẫn Rhodes vượt qua một khu vườn rộng. Khu vườn âm u với những cây mít to, cành và lá rất dầy. Cỏ dại mọc hoang vươn dài chườm gần hết lối mòn vốn đã rất nhỏ. Hai người dừng bước trước căn nhà gianh sạch sẽ giữa vườn vừa buồn vừa tối. Cô bé người hầu không gõ không gọi, khe khẽ đẩy cửa. Rhodes tự nhiên lùi một bước. Lẫn lộn nhiều mùi trầu cay mùi trầm mùi phấn son. Cái mùi đặc biệt chỉ riêng có trong khuê phòng của các thiếu phụ quý tộc. Cái mùi này cũng rất khác, rồi đây khi ở Thăng Long, Rhodes đã ngửi thấy trong buồng của cô bé Flora Huệ. Tất nhiên hôm đó Rhoes không ở đấy một mình. Bố cô bé đứng ngay sau. Ông ta làm chức quan mậu tài, chịu trách nhiệm thu thuế cả vùng Đông Bắc, nhưng không hiểu sao chỉ toàn thấy ông ta mặc võ phục. Ông ta không chịu rửa tội nhưng cho phép vợ và con tin sùng theo Đạo. Ngoài bà chính thất, ông ta còn hai cô thiếp nữa. Cái tục đa thê man rợ đã ngấm sâu trong các nhà quyền quý ở cái xứ này. Bà vợ chính lem nhem nước mắt loay hoay quỳ xuống hôn gấu áo Rhodes. Bà mới rửa tội tháng trước và được Rhodes đặt tên thánh là Agata. Bà nói, đứa con gái duy nhất đột ngột đổ bệnh, nó khóc lóc kêu nài chỉ muốn duy nhất mình cha đến đọc kinh cùng nó cho bệnh đỡ. Hơn một lần, Rhodes đã thấy những giọt nước mắt nồng nhiệt nóng và trong veo ấy. Rhodes đưa tay làm phép lành, tự nhiên thấy tay mình run run. Cô tiểu thư nửa nằm nửa ngồi tựa lưng vào chồng gối gấm, mắt long lanh rừng rực nhìn cha. Cái nhìn giống như một lần cô bé đã nhìn ở vào một buổi tối giữa hè khi suốt một tiếng rưỡi thiếu nữ Flora Huệ không đổi tư thế cầm cao cây nến đại rọi ánh sáng bập bùng xuống những trang bản thảo Phép giảng tám ngày. Rhodes làm dấu thánh, vòng tay rút chuỗi hạt đeo ngang ngay dây lưng chầm chậm vừa lần vừa đọc kinh. Tại sao, tại sao Chúa lại chọn chính con rồi đặt vào chỗ luẩn quẩn phiền muộn như thế này. Rhodes cố muốn quên nỗi ám ảnh từ cái giọng hổn hển đòi xin giải tội của bà goá phụ trẻ Gio Anna.
“Lạy cha, xin người tha tội cho con, đêm nào con cũng nằm mơ thấy người”
“Nhân danh Cha và Con và Thánh thần, Amen.”
“Lạy cha, con nhớ người.”
Rhodes khẽ liếc qua vai, cô bé người hầu đã đi từ bao giờ. Linh mục Rhodes thở dài, ông sâu xa biết những tín nữ mà dân Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong, gọi một chữ rất hay là đàn bà có vai trò quan trọng như thế nào trong hành trình truyền giáo của ông. Họ đã che chở cho ông và các bạn bè của ông trong những lúc khốn khó cực nhọc nhất.
Nguyên chú hình như của linh mục Đức.
Tôi nhớ một lần làm bí tích xưng tội cho một giáo dân. Cái giáo xứ hiu hắt mà tôi vừa làm lễ mở tay mênh mông thưa thớt người, trong bán kính hơn hai chục cây số duy nhất mình tôi là cha xứ. Chị ta người gốc Bắc, khoảng hơn ba mươi tuổi đã có chồng chừng được bốn năm. Khuôn mặt cũng như bàn tay trắng xanh đang xoắn chặt run run nói rằng đây là một người trí thức. Chị ta thì thào là đêm hôm qua chị ta vừa phạm một tội trọng. Chị ta lấy chồng không hề yêu và cuộc sống hôn nhân từ lâu đã là một địa ngục. Người chồng phải lao động nặng nên uống rượu rất nhiều, khi say anh ta trở nên hung hãn thô bạo. Tôi vừa an ủi vừa giải thích. Giải thích về một điều mình không hiểu kỹ thì bao giờ cũng phải kinh viện. Sự gì Thiên Chúa kết hợp, loài người không được phép phân ly. Chị ta im lặng rồi lại nức lên. ” Con nhiều lúc chỉ muốn giết chết anh ta” Tôi biết ở ý hay Tây ban Nha, những quốc gia có truyền thống Ki Tô giáo lâu đời và có đa số công dân theo Công giáo. Khi quốc hội thông qua luật cho phép ly dị thì hàng giáo phẩm lên tiếng phản ứng quyết liệt nhưng cái luật đó vẫn được thông qua. Thậm chí, khi làm Referendum, đa số người dân vẫn ủng hộ luật này. Liệu đấy có phải là tách bạch chuyện đạo và chuyện đời. Tôi trầm ngâm khuyên.
” Nếu con chưa kịp nghĩ đến lòng nhân từ của Chúa, thì hãy nghĩ đến các con của con”.
” Con chưa có con”
Hơn một tháng sau tôi đọc báo biết tin anh chồng bị giết. Tòng phạm hình như có cả người nhân tình. Tôi sấp mình xuống bàn nguyện và một thời gian dài bị ám ảnh khuôn mặt của chị ta. Tôi mệt mỏi tĩnh tâm. Tôi chẳng hiểu gì về con người cả, nhất là những người đấy lại là phụ nữ.
Nắng gay gắt giữa hè được gió sông làm cho đỡ khó chịu. Dòng sông ngầu đỏ mênh mông bờ bãi. Tả ngạn có vẻ trù phú hơn còn hữu ngạn có vẻ hoang vu hơn. Chàng thanh niên trợ giảng người Phú Yên đứng cạnh Alexandre de Rhodes khẽ thưa.
“ Lạy thầy, đây là sông Cái”
Linh mục Rhodes, vị thừa sai kiệt xuất của dòng Giê duýt, một trong những sứ giả đầu tiên của nền văn minh phương Tây Thiên Chúa giáo với sứ mệnh như hà ý thị tổ sư Đông lai rồi đây còn được nhiều bộ chính sử chép dưới cái tên phiên theo kiểu Hán Việt, A Lịch Sơn Đắc Lộ nao nao bâng khuâng nhìn sông. Chiếc hạm thuyền cuối cùng khuất dần ngả rẽ giữa con sông nhỏ Chính Đức Hồng Đức, tiếp vào sông Đáy theo sông Hồng lối đi lên kinh thành Thăng Long. Đắc Lộ cầm bút, nét viết hoạt và rất tháu. “ Chúng tôi ghi thêm ở đây về cấu trúc và trang trí những chiến thuyền này. Mũi thuyền ( ngược với thuyền của châu Âu ) là nơi hệ trọng hơn cả. ở đây có một phòng hay một ngai chạm trổ và trang hoàng nhiều tranh ảnh quý, với vàng son óng ánh. Gỗ ở dưới thuyền cũng sơn vàng son, chạm trổ cầu kỳ ở tất cả bên ngoài. Dĩ chí đến mái chèo và cột buồm cũng được trang trí đặc biệt. Khi hành trình thì theo hiệu lệnh do một dụng cụ bằng thanh tre đập nhịp điều hoà tiếng vừa trầm vừa cao. Người chèo, chèo rất khéo rất lẹ. Tay chèo nhẹ bởi gỗ nhẹ, cho nên chỉ một hay hai người đủ để cầm tay chèo. Họ không kéo chèo vào mình, mà đứng lên lấy hết sức mình đẩy ra trước mặt. Nghề này không có gì là hèn hạ, nhục nhã như thường thấy ở châu Âu. Người chèo trong các tầu chiến thường là binh lính và không có một người nào ( Nhất là khi chúa có mặt ở trên thuyền) lại không coi việc chèo là một vinh dự”. Sóng nước đều tăm tắp rẽ theo từng vệt chèo. Trí giả nhạo thuỷ. Cái ông thầy người Trung Hoa tên là Khổng Khâu được đám nhà Nho ở đây phong thánh nói có vẻ cũng hữu lý. Kẻ trí lự nhìn cuồn cuộn nước chẩy, tự thấy sâu sắc buồn hơn. Hùng vĩ và hiểm trở thật. Sóng ngun ngút khói nước không để vết hằn, làm như không có hơn ba trăm chiến thuyền vừa đi qua. Duy chỉ có vài tấm băng vải bó vết thương dở của đám lính bại trận cẩu thả ném xuống lòng sông, dập dềnh trôi ngược lại. Mầu hồng của nước sông bất lực không hoà tan được mầu đỏ tươi của máu. Đắc Lộ lững thững đi lại phía mũi thuyền. Ông cao và rắn chắc trong bộ áo chùng đen bằng đũi Đàng Ngoài, quà mới tặng từ chính tay của Thanh Đô Vương. Khi còn ở áo Môn, thời tiết rất khó chịu, Đắc Lộ mặc áo sợi bông chăm chỉ tập thiền. Ngoài ô cửa sổ xây gạch vòm cuốn theo kiểu lỗ châu mai là những cơn mưa cận nhiệt đới rả rích mang từng hạt nước to nặng. Đắc Lộ thích cái kiểu ngồi kiết gi đó, nó làm cơ bụng rắn và không thấy buồn ngủ. Cách ngồi kiết già cũng như cách đếm nhịp thở, Đắc lộ học lại từ một thầy fakia râu rậm khi ông có hai năm lê thê dài ở Goa. Hồi ở Thanh Chiêm với cha Pina, Đắc Lộ ngồi thiền mặc bộ bà ba mầu gụ của người Đàng Trong. Tất nhiên là trông hơi kỳ dị, đấy là bà Gio Anna nói thế. Cũng như mọi giáo sĩ khác, tuy mới ngoài ba mươi Đắc Lộ đã để râu dài. Giọng bà Gio Anna hơi nũng nịu.
“ Lạy cha, con thấy cha ngồi hơi giống mấy ông sư”
Cũng khó giải thích thật. Nếu nghiêm khắc mà xét thì mỗi tôn giáo đều có riêng một tư thế khi trầm lặng tĩnh tâm. Nhưng rốt ráo quan trọng là tâm phải được tĩnh, còn dáng vẻ. Lạy Chúa, xin cho tâm con được bình an. Hãy để cái cặp mắt đen kia nhắm bớt lại. Tất cả các tôn giáo đều có chung một sự quyến rũ mê hoặc. Khi ma quỷ hiện lên quấy rầy Đức Phật Thích Ca, Đức Chúa Giê Su, hầu hết bọn chúng đều mang khuôn mặt của đàn bà. Còn cái nhà ông Khổng Khâu ít bị gặp chuyện ấy chỉ vì đơn giản cho tới lúc hành đạo, ông ta vẫn còn vợ vẫn còn con. Ông ta phải bầy ra rất nhiều chuyện lễ nghĩa để tự thanh tẩy mình. Cái lễ của Khổng Tử tuy rườm rà nhưng hay thật. Lúc chưa tới buổi nguyện chiều, rỗi rãi, Đắc Lộ âm thầm dịch Luận Ngữ ra tiếng Việt. Nghe đâu chính ông Nghè Bộ, kẻ tử thù của cha Pina cũng đang làm việc này. Phản ứng của giới trí thức nhà Nho là phản ứng dữ dội và nguy hiểm nhất đối với các thừa sai. Tại sao họ điên dại tin vào một người phàm chỉ nhờ học thức và trí thông minh rồi có thể thành Thánh nhân mà không chịu tin rằng đấy là ý muốn cao cả của Đấng tối thượng đã lập nên trời đất. Sinh đã là ký, tử đã là quy thì cái kiếp sống nhờ gửi này phải có một chỗ vĩnh viễn đi về đó là nước Thiên Đàng. Alexandre de Rhodes cao giọng.
“ Trong sách Đại Minh có lời rằng. Thiên phù địa tải. Trời che đất chở. Vậy thì trời là nhà, đất là nền. Hễ có nhà nào thì có kẻ làm nên mà mới nên, phải có chủ nhà chứ”.
Gã cử nhân tuổi trạc trung niên cố ra vẻ hom hem cao niên, vằn mắt cục cằn.
“ Ông nói như củ chuối ấy. Mẹ cái bọn nước ngoài. Các con đâu. Đập, đập hết đi”.
Cậu thanh niên trợ giảng có tên Thánh là Anrê, uỡn ngực đứng lên che cho thầy. Cậu ta lúc nào cũng vậy, kể cả lúc như bây giờ nắng sông đang làm cho cậu ta bật hắt hơi. Đắc Lộ dịu dàng bảo cậu bé hãy lui vào bóng râm của mái vọng lâu. Lúc có riêng hai thầy trò bao giờ Đắc Lộ cũng gọi cậu là Nhan Hồi. Tất nhiên là đừng để cha Pedro Marques nghe thấy. Cha Marques sinh tại Nagasaki mẹ là người Nhật có đức tin cứng cáp mạnh mẽ. Cha là giáo sĩ đồng hành duy nhất cùng Đắc Lộ trong hành trình truyền giáo ra Đàng Ngoài lần này. Và tất nhiên cũng đừng để đám nhà Nho nghe thấy. Chao ôi, đám nhà Nho, sao các người hung dữ cuồng tín đến vậy. Cha Marques kể, hồi ở Nhật, Thiên Hoàng bức hại cấm đạo, người ta đem các giáo dân không chịu bước qua Thánh Giá, treo lộn ngược đầu úp mặt xuống hố phân. Cứ thế một ngày, cứ thế hai ngày, cho đến khi tuyên thệ vĩnh viễn từ bỏ Chúa. Bà Gio Anna nghe chuyện nức nở, vô tình bàn tay nắm chặt tay Đắc Lộ, cặp
mắt đen sẫm nước vùi trong khăn lụa.
“ Cha ơi, hay người bỏ tất đi rồi cùng con biệt tăm tới nơi xứ khác”.
Anrê lúc ấy thực sự là một cậu bé tròn mắt nhìn thầy. Còn Đắc Lộ ngước mắt nhìn tượng Chúa khổ nạn. Chàng thanh niên trợ giảng tiếc rẻ nhìn sông dài rồi lui vào dưới mái vọng lâu. Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp. Con thuyền không lớn này đóng theo kiểu phương Tây, được chúa thượng ân sủng cho đi vào cuối hạm đoàn. Chiếc thương thuyền Bồ đào Nha, trang bị như một chiến thuyền, nặng nề lắc lư trôi ngược. Ngoài những khẩu thần công có cỡ nòng 80 ly của xưởng Bocarro ở Ma Cao trùm vải bạt dầy xếp thành hai dẫy trên mặt boong thì trong bốn khoang hàng đều chất đầy súng hoả mai và súng tay của một xưởng đúc súng nổi tiếng ở Tu Lông. Cạnh những hòm quân khí ấy đuợc chen vào những rương lỏng chỏng tượng Chúa Cứu Thế, tranh và ảnh ông thánh Giu Se Đức mẹ Maria. Đấy là nghịch lý hay là lẽ quyền biến. Muốn cứu người thì phải chứng kiến cảnh giết người. Lạy Chúa, vì tội lỗi tăm tối của chúng con nên Người đã vẽ những nét thẳng bằng đường cong. Chúa Đàng Ngoài Trịnh Tráng cau mày nghi hoặc hỏi.
“ Thế kia là cái quái quỷ gì”
Sừng sững cao bên vách núi đá bao quát nhìn cả vùng Cửa Bạng là cây Thánh giá bằng gỗ lim mà hai thừa sai đã cùng vài chục nam giáo dân xứ Thần Phù vất vả suốt mười chín ngày để dựng lên. Chênh chếch đấy là cái đền thờ một thiếu nữ quyên sinh vì thất tình mà lúc đầu cha Marques khăng khăng đòi đập bỏ. Nhưng Đắc Lộ cực lực can ngăn. Trung tuần tháng bẩy năm 1625 cha De Mattos là đấng bề trên Kinh lược dòng Tên đến Ma Cao triệu tập hội nghị thừa sai và công bố nhiều lệnh cấm. Không dùng người tân tòng bản xứ làm thầy Giảng. Không chấp nhận những nghi lễ địa phương thờ tiền nhân. Không được dùng ngôn ngữ bản xứ dịch những từ quan trọng của đạo, ví như gọi Deus là Thiên Chúa. Và giờ đây dưới chân chúa Đàng Ngoài, Đắc Lộ trong bộ quần áo thương gia sụp lạy kính cẩn.
” Khải bẩm chúa Thượng, đấy là đài hải đăng làm theo kiểu phương Tây. Tất cả thương thuyền người Bồ khi nhìn thấy nó thì biết cách định hướng mà cập vào bờ”.
Tất nhiên có vài đại thần hiểu rộng định tiến lên phản biện, nhưng nhìn vẻ hài lòng của chúa Thượng khi nghe lời tâu của Đắc Lộ thì lại hèn hạ lùi xuống. Kẻ sĩ Bắc Hà thời nào cũng không có nhiều. Mình sẽ phải nói dối theo kiểu ấy thêm bao nhiêu lần nữa. Đắc Lộ dựa hẳn người vào cái lan can ọp ẹp của chiếc thuyền nhỏ bàng bạc nhìn buổi chiều. Nước biển gần bờ ngăn ngắt xanh. Hôm nay là hai mươi tám tháng ba năm 1629, cách cái ngày đầu tiên Alexandre de Rhodes đến đàng Ngoài gần tròn đúng hai năm. Chuyến lưu đầy này vẫn chưa phải là chuyến lưu đầy cuối cùng. Bỗng viên cai đội thuyền trưởng dướn hẳn người lên chăm chú nhìn vào ống nhòm. Chỗ cái sân lát đá trước đền thờ trinh nữ thấp thoáng vài ba thớt ngựa. Dịch lên trên một chút nữa, duới ngay chân Thánh Giá có chừng bốn năm người đang khoa chân múa tay. Viên cai đội chỉnh tiêu cự, ông ta đã nhận ra mấy giáo dân cuồng tín người Thăng Long. Khuôn mặt ròng ròng mồ hôi của hai thầy giảng trẻ Phanxicô Đức và Inhaxiô Nhuận là nhìn thấy rõ nhất. Quay lại chàng thanh niên trợ giảng Anrê, ông ta bảo.
– Phúc mấy gã thầy trò của nhà mày cao thật. Đi đến tận đây mà vẫn có người chạy theo để tiễn.
Chàng thanh niên cười cầu tài tỏ vẻ muốn mượn cái ống nhòm. Viên cai đội nhếch miệng cười mỉa rộng rãi chìa tay cho mượn. Anrê nhìn, và như vô thức anh hốt hoảng buột miệng kêu tên cực trọng. Đắc Lộ không nghe thấy gì, ông như đang miên man ngập người vào ký ức. Dòng sông thời gian, chẳng bao giờ có thể uống nước sông ở cùng một chỗ. Con sông Cái của mùa lũ tháng giữa hè đến đây nước bỗng ngầu xiết đùng đục đỏ. Người đàng Ngoài liệu có sốt sắng đức tin như người đàng Trong. Thừa sai Rhodes mỏi mệt lỏng người bâng quơ ngồi lên thân một khẩu thần công. Số lượng vũ khí chở trên chiếc thuyền được đóng tối tân này giá trị chừng hai mươi nghìn nén bạc. Nhưng nó cũng chưa thấm vào đâu so với chiến phí của chiến bại vừa rồi. Nguyên suý thống quốc chính Thanh đô vương Trịnh Tráng đích thân hộ vệ thánh giá hoàng thượng đi nam chinh đã thất bại trở về. Chiến dịch quân sự này là chiến dịch có quy mô lớn đầu tiên giữa hai miền Nam Bắc. Chiến dịch phát khởi vào tháng ba năm Đinh Mão (1627), kéo dài gần bốn tháng để kết thúc thê thảm vào ngày hôm nay, mồng một tháng bẩy. Trong suốt hai mươi năm tới sẽ còn sáu chiến dịch nữa ở tầm cỡ như vậy. Toàn bộ bốn châu Hoan ái Ô Rí sẽ xơ xác nồng nặc mùi tử khí. Thế kỷ Mười bẩy rồi thế kỷ Mười tám sẽ chứng kiến đất Việt cạn kiệt nội lực. Và nước An Nam hoặc hùng ngôn là Đại Nam đương nhiên chính thức trở thành một nhược quốc. Nó đau đớn bị xâu xé bởi ngoại bang phương Tây là nước Pháp, một quốc gia có một quốc đạo lạ lẫm. Đó là điều tốt hay là điều xấu. Đa phần các giáo sĩ thừa sai đều đặc biệt quan tâm đến chính trị. Không thể không quan tâm. Và hầu hết các giáo sĩ đều giành nhiều cảm tình cho vương triều đàng Trong. Đắc Lộ cũng vậy. Không phải ngẫu nhiên mà trong suốt thế kỷ mười bẩy ưu thế trọng pháo của vương triều Nguyễn phía Nam đã cân bằng thực lực quân sự với vương triều Trịnh phía Bắc, mặc dầu quân đội của nó chỉ bằng một phần hai thậm chí một phần tư. Đắc Lộ nhìn sông Hồng, thấy nó cuồng vĩ trì trệ xa cách và ngạo nghễ khác hẳn sông Trà. Nhưng đấy cũng chỉ là một cảm thức hoang mang nhất thời. Không có gì khác nhiều giữa bà thiếu phụ Gio Anna và cô thiếu nữ Flora Huệ. Lạy Chúa, chẳng phải chính người cũng đã hoang mang khi ở vườn Giệt sê ma ni. Giờ đây trong sâu xa Rhodes thấy nhiều vô nghĩa hoặc nếu có nghĩa thì cũng mong manh, nhất là khi đọc những tông hiến những huấn dụ được ban phát một cách quan liêu từ toà Thánh già cỗi và bảo thủ Rô Ma. Những cuộc truyền giáo thành công đều là những cuộc ồn ào. Mà đời sống tu trì giữ gìn đức tin của một giáo đồ luôn là miên man thiêng liêng riêng tư tĩnh lặng. Cha Đắc Lộ mệt mỏi nhìn đám giáo dân kẻ quỳ người đứng, khe khẽ thở dài. Cha bắt đầu buổi lễ Lá, một trong những lễ trọng thể bậc nhất của mùa chay. Thành Thăng Long đang chuyển mùa, mây đùng đục kéo vớt vát một vài đợt rét cuối. Bây giờ đã là đầu tháng ba năm 1629. Cậu trợ giảng Anrê đứng sau kín đáo khẽ giật gấu tay áo linh mục Đắc Lộ. Những kẻ dữ cũng đã đến. Đi đầu vẫn là một hoà thượng chậm chạp tuổi rất trọng. Trông ông ta yếu ớt nhưng giọng nói khoẻ đặc biệt vang rõ nét sang sảng. Cạnh ông ta vẫn là gã cử nhân trung niên hung hăng. Thực ra hai người này thờ hai tà thần khác nhau. Ông sãi kia tin vào đạo Thích, người đàng Ngoài mỗi nơi đọc sai đi một chút nhưng gọi chung là Thích Ca. Còn gã cử nhân kia thì tôn kính
Khổng tử là một người nước Tầu theo sử liệu thì vào cùng thời với Aristote bên Hy lạp. Cha Đắc lộ mấp môi như đang đọc kinh nhưng nói khẽ đủ nghe cho cậu trợ giảng.
” Con đưa cha Marques vào gian trong”
Phải hơn một trăn năm nữa các nhà thờ ở Việt Nam mới có phòng thay áo. Còn cái nhà thờ tuyềnh toàng này được chính tay đội ngự lâm quân của phủ chúa cất lên. Ngoài tiền có từ sự hảo tâm của vài tín nữ quyền quý, muốn dựng được nó bắt buộc phải có ánh gươm lưỡi kiếm. Sự phẫn nộ của đám nho sinh của những người rồi đây được gọi là lương dân hoàn toàn không phải vì chuyện bảo vệ đức tin một chiều. Hầu hết các thừa sai dòng Tên không khuyên bảo người dự tòng làm những việc xúc phạm đến Tam giáo. Tất thẩy họ đều biết sợ. Sự “từ bỏ ma quỷ” của nhiều người dự tòng sốt sắng quá mức. Một số tân tòng nhiệt tình muốn dẹp hết mọi thứ nghi lễ địa phương liên quan đến cúng tế tổ tiên. Họ huyênh hoang đeo nhiều ảnh và tràng hạt ở cổ với vẻ phô trương thách thức. Đi đường lúc nào cũng mang theo nước thánh, nhánh cây lễ Lá, nến làm phép để trừ quỷ và chữa bệnh. Họ còn công khai hãnh diện đi gắn Thánh Giá ở các đầu ô kinh thành Thăng Long. Ông già tân giáo Gioakim mới có tên Thánh, vốn xuất thân từ một thủ từ trông chùa đã nói thẳng vào mặt Đắc Lộ là cha không biết mở mang nước Chúa không dám xưng Đạo ra trước mặt thiên hạ. Lạy Chúa, phải chăng lịch sử chỉ là một vòng tròn hoang mang lặp lại một cách nông nổi. Nhiều người trong số giáo dân đầu tiên ở thành Giê du da lem khi nghe Đức Giê Su thuyết giảng chắc cũng vậy. Và những tân tòng La Mã thời thánh cả Phê Rô liệu có đông những kẻ mù loà ồn ào tuẫn tiết. Đám đông đáng thương hơn là đáng trách. Họ luôn bối rối muốn tìm kiếm đức tin với tất cả sự khát khao trong trắng. Thế là nhan nhản cực đoan tranh chấp cuồng tín thành kiến. Chẳng có tôn giáo nào khuyến khích những sự dữ ấy cả. Vị hoà thượng già vừa lần tràng hạt vừa khẽ lầm nhầm tuyên Phật hiệu rồi điềm đạm lịch thiệp hỏi.
” Này, vị hành giả kia. Ông căn cứ vào đâu mà nói Niết Bàn là một thứ tuy gần giống Thiên đàng của các ông nhưng ở trạng thái hoàn toàn lãnh đạm với thế giới nhân sinh. Và để tự cứu độ mình đạo Phật chủ trương xuất thế vô tình với tất cả chúng sinh. Ông có vẻ là bậc trí giả sao ông nông nổi thiển cận vậy. Ông không biết rằng đức Phật luôn tuyên bố, Phật pháp bất ly thế gian giác. Muốn giải thoát hay nói theo kiểu các ông là muốn cứu độ cho cả thế gian vô thường này thì có biết bao nhiêu là con đường. Tại sao Chúa của các ông nhỏ nhen dám tự nhận mình là con đường duy nhất”.
Ngày 22 tháng 10 năm 1994, cuốn Crossing the threshold of Hope dịch từ nguyên bản tiếng ý của giáo hoàng John Paul 2 được phát hành rộng rãi. Không biết bao nhiêu các bậc thiện trí thức Phật tử trên khắp thế giới phẫn nộ phản hồi. Một trong nhiều câu hỏi đặt ra, giống hệt như câu hỏi của vị hoà thượng già hỏi Đắc Lộ. Xưa và nay. Tương lai và quá khứ, chỉ là sự phân biệt linh tinh mù loà của con người. Dưới cái nhìn thấu suốt triệt để của các bậc chân chính giáo chủ đã tới cảnh giới giác ngộ, mọi sự như như không khác. Đắc Lộ mang máng biết vậy, nhưng ông cũng biết ông chỉ là một thừa sai nhỏ nhoi phàm trần xác thịt. Mặc kệ những gầm gào của đám người đối diện Đắc Lộ định nói, ông định trích dẫn Thánh kinh phần sách Công đồ tông vụ. “Không có ơn cứu độ nơi một người nào khác. Vì dưới gầm trời này không có một danh nào khác đã được ban xuống cho nhân loại để phải nhờ vào đó mà chúng ta trông được cứu thoát”. Đây không phải là một tín lý tư biện mà đấy là một xác nhận của Đức Tin. Phải sống trong đức tin thì mới luận lý chân
thành được. Danh xưng chỉ phù phiếm là danh xưng, nhưng Chúa là danh xưng tối hậu rốt ráo nhất. Nhờ vào cái danh toàn vẹn ấy mà tôi cũng như ông tới được bến bờ của bình đẳng vị tha bác ái. Đắc Lộ chỉ băn khoăn không hiểu là đức Thánh Cha có tục danh Vojtyla của thế kỷ hai mươi nếu trả lời thì sẽ giống như ông không. Gã cử nhân mặt nghiêm tái mét cắt ngang.
“Này, gã Hoa Lang ngạo mạn ngoại quốc kia. Tất cả thuyết lý của mi chỉ là tà thuyết. Đạo của các người là bất hiếu bất nghĩa với tổ tiên tiền nhân. Bất trung với quốc gia dân tộc. Với bọn ngươi, phương cách duy nhất chỉ là tru di tận diệt”.
Như thế không phải là tranh luận nữa rồi. Như thế nghĩa là đầu rơi máu chẩy. Không cần đến hai trăm năm nữa, Đắc Lộ đã chắc chắn biết người Công giáo sẽ chịu hệ luỵ thê thảm từ phong trào Văn Thân sát đạo. Nghẹn ngào trong một thời gian ngắn, Việt Nam có hơn một trăm vị thánh tuẫn tiết. Thế nhưng, đừng chỉ thấy cái rằm trong mắt người khác mà không thấy cái xà gồ nằm trong mắt mình. Từ thời thừa sai lỗi lạc Matteo Ricci cho đến qua cả thời Alexandre de Rhodes, những giáo sĩ có trí thức đều biết uyển chuyển thích nghi khi truyền giáo, họ chân thành tôn trọng những phong tục nghi lễ bản xứ. Chúa đã sáng tạo và xếp đặt mọi sự. Việc người Việt thờ kính tổ tiên và anh hùng liệt sĩ đều nằm trong chữ hiếu hoàn toàn phù hợp với giới răn thứ Bốn. Sau hội nghị ở Ma cao có mặt Kinh lược bề trên Dòng, cha Đắc lộ và những giáo sĩ giống như ông đã phủ phục dưới chân đức Thánh cha trước cửa đền Phê Rô ở La mã ròng rã kêu khóc. Nước mắt của các ông chẩy suốt bao nhiêu năm để rồi Bộ truyền giáo ra Huấn thị cho các đại diện tông toà đi các nước Chine, Tonkin et Cochichine. ” Đừng vì nhiệt tâm, đừng tìm luận chứng nào để bắt các dân địa phương thay đổi những nghi lễ những phong tục của họ khi chúng hiển nhiên không ngược với tôn giáo và luân lý. Còn gì chướng hơn là mang một chút nước Pháp, Tây ban Nha, Italia hoặc một xứ nào đó ở Âu châu đặt vào chỗ người Tầu. Hãy mang đức tin vào thôi”. Huấn thị đặc sắc năm 1659 này nếu trọn vẹn được thực hiện thì việc truyền bá tin mừng ở á châu sẽ tốt đẹp tươi lành nhân hậu biết bao nhiêu. Rồi đây Công đồng Va ti căng 2 đã biết cảm ơn nó. Đắc Lộ nghẹn nhăn nheo đọc nó trong nhưng ngày cuối cùng trên giường bệnh ở xứ Ispahan tại I ran xa xôi. Ông nhớ về cái am thờ đức Phật Bà Quan Thế âm Bồ tát của thiếu phụ Gio Anna. Ông nhớ cái giọng thanh trong của thiếu nữ Flora Huệ khi đọc Kinh nguyện giỗ phục dĩ chí tôn, bản tiếng nôm của thầy giảng Phanchicô người Chí linh Hải dương. Một văn bản Thần học Catholic đậm văn phong Việt, nó gần gũi thân thiết đến mức cho tới giữa thế kỷ hai mươi, các anh chị em tín hữu đàng Ngoài vẫn quen đọc nó trong các ngày giỗ. Alexandre de Rhodes biết tất cả những điều đó và có lẽ duy nhất một điều ông không biết là dưới sự minh khải của Thiên Chúa tối cao với sự nỗ lực tâm huyết làm chữ quốc ngữ của ông, ở Việt Nam đã có thêm vài ba nhà văn thật. Đắc Lộ giật mình tỉnh thức, khi cậu thanh niên trợ giảng Anrê lại gần hấp tấp đưa cho ông cái ống nhòm. Mặt cậu ta nhợt nhạt như chiếc khăn dùng làm lễ Thánh Thể.
– Lạy thầy, con đã nhìn thấy.
Đắc Lộ cầm cái ống nhòm nhìn theo hướng tay cậu trợ giảng chỉ. Trên chênh vênh vách đá là cô bé Flora Huệ. Trinh nữ như đang khóc thảm thiết, vừa như đưa tay làm dấu vừa như cuồng nhiệt vẫy về phía thuyền. Hai người đàn ông bên cạnh tuyệt vọng cố giữ chặt tay cô bé. Chon von đỉnh núi có sừng sững cây Thánh Giá gỗ lim, chỉ thêm một bước nữa là cô bé sẽ rơi xuống mép biển sâu ngăn ngắt. Viên cai đội thuyền trưởng cay đắng.
– Mù quáng. Sự mù quáng sẽ giết chết cô ấy. Còn ông, ông là kẻ có tội. Đắc Lộ sấp người quỳ xuống lòng thuyền nức nở khóc. Gió trái mùa loay hoay thổi nhấp nhô những con sóng vô định. Hình như lúc ấy đang là cuối tháng ba năm 1629. Một buổi chiều có nắng muộn của mùa chay./
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s